Vol 2 – Chương 1: Những gì còn lại chôn vùi trong cát trắng
Amalgam Hound Vol 2
Tác giả: Komai Mitori
Minh họa: Ozaki Domino
Chương 1: Những gì còn lại chôn vùi trong cát trắng
Ngọn lửa gầm rú. Viên hồng ngọc đỏ rực. Bàn tay của một cô gái đẩy qua lớp cát, bám víu lấy sự sống, được cứu khỏi ngọn lửa lần đầu tiên. Một cảnh tượng mà anh sẽ không bao giờ quên.
“Đang nghĩ gì vậy? Trông anh buồn thế”, cô gái nói, cánh tay được bọc trong đôi găng tay dài, hai bàn tay đặt gọn gàng lên nhau. Gió biển đùa giỡn mái tóc bạch kim của cô, và đôi giày cao gót đen gõ lách cách trên sàn gỗ của boong tàu.
Người đàn ông bên cạnh cô chỉ thở dài.
“Còn cô thì trông như đang tận hưởng lắm.”
“Ừ thì, không tận hưởng một khoảnh khắc quý giá như thế này thì phí quá.”,
Cô mỉm cười, đôi mắt xám ánh lên. Má của một bồi bàn đi ngang qua đỏ ửng lên, anh ta khựng lại một chút, nhưng cô chẳng bận tâm, cứ thong thả bước đi cùng người đàn ông, váy xếp ly màu xanh sẫm tung bay trong gió.
Người đàn ông tựa người vào lan can cây cầu, ngoái nhìn về boong tàu rực rỡ ánh đèn, khẽ rụt người lại.
Họ không phải là những người duy nhất tận hưởng khoảnh khắc tĩnh lặng trong buổi tối êm đềm. Các gia đình và cặp đôi chen kín boong tàu, thưởng thức âm nhạc và tiếng sóng biển, tay cầm ly rượu. Dù đang trong kỳ nghỉ, nhiều người vẫn ăn mặc trang trọng thay vì ăn mặc thoải mái, có lẽ là để dự tiệc chào mừng trong sảnh chính. Người đàn ông càng thêm buồn khi nhận ra giờ đây anh cũng chỉ là một phần của đám đông này, anh lại thở dài.
“Anh phải tận hưởng cái này kiểu gì đây?”, anh nói. “Ai biết khi nào bọn họ phát hiện ra chúng ta chứ?”
“Nếu chuyện đó xảy ra”, cô gái đáp, “thì anh cứ mặc quân phục và trưng ra bộ mặt nghiêm nghị của anh mà giải quyết thôi.”
Anh vô thức nhìn xuống bộ quân phục lễ Adastrah đang mặc. Phù hiệu trên vai nhanh chóng cho người khác biết anh mang hàm hạ sĩ. Với bộ đồ này, nếu anh trông thoải mái trong tình huống thế này thì có khi lại càng thu hút sự chú ý không mong muốn.
Nụ cười của cô gái càng tươi hơn, cô khoác tay anh rồi tựa vào người anh.
“Gió biển thật dễ chịu, nhưng hay là mình vào sảnh chính đi. Tôi đã mong được đi dự tiệc với anh đấy.”
“…Mục tiêu có ở đây không?”, anh hỏi, hạ giọng.
“Không. Ai cũng có vẻ hạnh phúc cả. Khách hàng tiềm năng chẳng ra gì.”
Nhìn thoáng qua, anh và cô gái chẳng khác gì một cặp đôi đang âu yếm nhìn nhau.
“Cảm giác mất mát của bọn họ chưa đủ lớn để Gino Camicia để mắt tới”, cô gái tiếp lời, giọng vô cảm.
“…Ừ. Bọn họ hạnh phúc. Thật tốt cho họ.”,
Anh khẽ đáp rồi cùng cô gái sóng đôi bước đi. Anh nhìn cô trao nụ cười thân thiện cho nhân viên phục vụ khi đi ngang qua.
“Chỉ cần tôi chọn một tính cách, rồi cô thay đổi được đến mức này sao?”, anh lẩm bẩm.
“Đó là việc mà bọn tôi, những Hound, phải làm. Anh mau chọn tính cách cho cộng sự của anh đi.”
Cô gái mỉm cười, vuốt lại mái tóc bị gió thổi rối tung.
Trong sảnh chính của du thuyền, các vị khách trò chuyện rôm rả. Có cả thường dân từ ba quốc gia nằm dọc tuyến hải trình, lẫn những nhân vật quan trọng trong giới chính trị, công nghiệp. Người đàn ông nheo mắt nhìn đám đông đủ kiểu lễ phục, tuxedo, dạ hội, quân phục.
Anh và cô gái đến đây chỉ vì một mục đích duy nhất: bắt Gino Camicia ngay trên con tàu này.
Một tuần trước
Tiếng bước chân bỏ chạy vọng khắp đường hầm. Tiền rơi khỏi túi gã đàn ông đang thở hồng hộc, nhưng hắn chẳng buồn nhặt, đôi giày sneaker cũ kỹ đập chan chát xuống đất.
Theo Starling đuổi sát phía sau, tay cầm súng.
“Dừng lại! Không dừng tôi bắn đấy!”, anh quát.
Nếu gã kia thoát ra khỏi đường hầm, hắn có thể leo rào chạy thẳng lên đường cao tốc.
Nhưng gã vẫn chạy. Không còn cách nào khác, Theo quỳ xuống, giữ chắc súng, rồi bóp cò.
Tiếng súng vang lên sắc lạnh trong hầm, viên đạn xuyên qua chân gã, ngay dưới đầu gối. Thế nhưng thay vì máu, bánh răng và mảnh kim loại vung vãi khắp mặt đất.
“Đồ nhân tạo!”, Theo bực bội, lập tức đuổi theo.
Gã đàn ông lảo đảo lao về phía ánh sáng ở cuối đường hầm, gần như vấp ngã vì vội vã. Theo nghe thấy tiếng cười khàn khàn của hắn – gã tin chắc sắp thoát được.
Nhưng đúng lúc đặt chân ra ngoài ánh sáng, thứ gì đó từ trên rơi xuống đè bẹp hắn. Hắn giãy giụa, rút dao ra trong tuyệt vọng, nhưng trước khi kịp tấn công, một gót giày đã giẫm lên tay hắn, ghim chặt xuống đất. Có lẽ gã hiểu ra phản kháng chỉ vô ích, hắn nằm im, thở dốc, ho khù khụ.
Theo đuổi kịp, đứng thở một lát rồi liên lạc với cảnh sát địa phương.
“Chúng tôi đã khống chế nghi phạm. Đường hầm, cửa đông. Gửi xe tới.”
Cúp máy, anh quay sang nhìn người đang ghì chặt tên tội phạm.
Cô gái mảnh khảnh, chân tay gầy guộc như thiếu niên, thoạt nhìn chẳng ai nghĩ cô đủ sức đè được một gã đàn ông trưởng thành. Mái tóc bạch kim của cô óng lên dưới ánh nắng, đôi mắt xám tro ngước nhìn Theo.
“Làm tốt lắm, Theo”, cô nói lạnh lùng.
“Không ngờ cô leo được cả đường mòn trên núi đấy.”, Anh lắc đầu. “Làm tốt lắm, Eleven.”
Cô gái, Eleven, chỉ chớp mắt, rồi kéo gã đàn ông đứng dậy. Theo bấm còng tay hắn, còn hắn thì há hốc nhìn Eleven đang đứng dưới nắng. Tiền vẫn rơi lả tả từ túi hắn.
“Cô là thiên thần à?”, Hắn thở dốc. “Cánh của cô đâu rồi?”
“Ngốc vừa thôi. Đi.”,
Theo kéo hắn về phía xe cảnh sát vừa đỗ ở cửa hầm. Gã kêu gào đau đớn, Theo gắt gỏng bảo im đi rồi giao hắn cho cảnh sát địa phương. Eleven lặng lẽ theo sát nửa bước phía sau.
Theo nhìn gã bị nhét lên xe, rồi quay lại nhìn Eleven. Đầu cô chỉ cao tới vai anh, nên lúc nào cô cũng phải ngước nhìn anh bằng đôi mắt màu tro ấy. Thấy vậy, anh cảm thấy yên tâm một cách lạ lùng.
“Cô khỏe thật đấy”, anh nhận xét. “Khỏe hẳn rồi nhỉ?”
“Vâng. Xin lỗi vì đã để anh đợi. Từ hôm nay tôi đã trở lại nhiệm vụ thường lệ.”
“Nghe mừng thật đấy. Chào mừng cô trở lại, Eleven.”
“Cảm ơn, Theo.”
Anh xoa đầu cô, đúng tầm tay anh. Eleven để anh làm tùy ý.
“Xoa đầu để làm gì vậy?”, cô hỏi.
“Thì… coi như khen cô làm tốt?”
Eleven vuốt lại mái tóc bị rối, trầm ngâm suy nghĩ ý nghĩa câu nói của anh. Đã lâu rồi Theo mới được thấy cảnh này, anh bật cười.
Không lạ khi tên tội phạm kia nhầm cô với thiên thần: gương mặt như búp bê, tỷ lệ hoàn hảo, mái tóc bạch kim, đôi mắt xám tro, thân hình thiếu niên gầy guộc, không rõ trai hay gái, tất cả đều không giống con người.
Cũng phải thôi. Cô là mẫu đặc biệt của Amalgam, robot nhân tạo, mà quốc gia Adastrah phát triển riêng cho chiến trường. Được gọi là Hounds, để phân biệt với Amalgam thông thường, họ là vũ khí bí mật dùng trong mọi lĩnh vực. Eleven chính là Hound thứ mười một. Hiện tại, cô làm việc tại Cục Điều Tra Tội Phạm, chuyên xử lý các vụ án liên quan đến Amalgam. Và với Theo, cô là cộng sự duy nhất.
Mùa xuân năm đó, cả Adastrah tổ chức lễ tưởng niệm hòa bình sau cuộc đại chiến lục địa. Thành phố Delverro, nơi Theo và đội của anh đóng quân, cũng tham gia.
Nhưng đúng lúc ấy, giáo phái cực đoan Roremclad tấn công, giết chết nhiều người. Chúng không chỉ mang theo lính vũ trang mà còn cả Amalgam tự phát triển. Theo và đội của anh chạy đôn chạy đáo cứu người dân, còn Eleven thì làm mồi nhử, dụ toàn bộ Amalgam vào lò đốt khổng lồ và bị thiêu rụi cùng chúng.
Nhưng cô là mẫu đặc biệt, lửa lò đốt không thể hủy diệt cô. Tơi tả và tàn tạ, cô vẫn trở về với Theo – anh suýt ngất vì không tin nổi. Cơ thể Eleven bị hư hỏng nặng, cô không thể tự phục hồi đủ nhanh mà phải trở lại phòng R&D để các chuyên gia sửa chữa và giám sát, rồi mới được quay lại làm việc.
Trong lúc đó, mùa hè đã đến với Delverro.
“Thật sự, thằng cha đó đúng là khốn kiếp”, Theo lẩm bẩm khi trở về xe.
Đi nửa bước sau, Eleven đáp,
“Xét việc hắn không sở hữu Amalgam, có lẽ ‘không tệ’ cũng có thể chấp nhận?”
“Thế nhưng vụ này thật sự quá kinh khủng…”
Trong đầu Theo hiện lên cảnh nạn nhân và gia đình họ. Nghĩ đến việc phải viết báo cáo, anh chỉ biết thở dài.
Vụ án đầu tiên Eleven quay lại không hề đơn giản. Gã tội phạm bị bắt đã giả làm người môi giới nhận con nuôi, dàn xếp các vụ nhận con nuôi không hề tồn tại để lừa tiền phí thủ tục.
Hắn gặp gia đình, nhận tiền, rồi bày ra trò cho họ gặp con qua cửa kính để “giữ vệ sinh”. Nhưng thứ họ thấy chỉ là video 3D. Những gia đình này không thể xin con theo kênh chính thức, nên họ bám víu hy vọng mong manh, để rồi nhận ra mình bị lừa, đau đớn tột cùng.
Nhưng câu chuyện không dừng lại ở đó.
Gã chỉ là kẻ trung gian. Một cặp đôi khác làm việc cùng hắn tiếp cận các gia đình, bày ra kịch bản “chúng tôi cũng từng nhận con qua hắn”, làm mọi người tin tưởng. Tàn nhẫn khôn cùng.
Nhưng hai ngày trước, cặp đôi ấy bị phát hiện đã chết. Một gia đình đến gặp theo lịch hẹn thì thấy xác hai vợ chồng. Thi thể bị phá nát, đặc biệt người vợ bị rạch toạc bụng. Đứa bé nhận nuôi biến mất. Ban đầu cảnh sát nghi thú hoang, nhưng không phát hiện dấu nước bọt hay vết cắn nào.
Thi thể bị ăn mất một phần. Nhưng không có nước bọt.
Nhắc đến chi tiết này, Theo và đội anh không khỏi nhớ lại vụ thảm sát lễ tưởng niệm hòa bình, bọn Amalgam đã rình rập và săn mồi. Nhiều gia đình phải chôn cất những cỗ quan tài rỗng.
Họ nghi vụ này cũng có Amalgam, nhưng chưa tìm ra bằng chứng.
“…Chúng ta về văn phòng thôi.”, Theo cầm vô lăng, nổ máy. “Tôi muốn rà soát lại tất cả dữ liệu.”
“Rõ. Tôi sẽ báo cho Emma và Tobias.”
Eleven lấy điện thoại ra, thứ Theo bắt cô phải dùng để tự liên lạc. Dù vậy, cô vẫn vụng về với nó. Anh liếc sang, thấy cô loay hoay, bất giác mỉm cười. Ít ra cô cũng tiến bộ hơn hồi anh còn làm hộ hết.
“Biết không”, Theo nói, “cũng nhẹ nhõm khi thấy cô vẫn vụng về vài thứ. Hy vọng lần này cô gửi được tin nhắn trước khi mình về đến nơi.”
“Vấn đề là cái điện thoại này”, Eleven lầm bầm.
“Nó nhận diện ngón tay nhân tạo thì được, nhưng lại không phản hồi với da của Amalgam. Dù tôi mô phỏng ngón tay người, nó vẫn không hoạt động…”
“Ừ, ừ.”
Theo bật cười, đánh lái vào khúc cua. Khi tội phạm phù thủy tăng lên, điện thoại được nâng cấp chống phép thuật, vô tình gây khó cho Amalgam. Vũ khí phép thuật khiến Eleven phải gõ lại tin nhắn từ đầu.
“…Nếu tôi hợp nhất với thiết bị này thì mọi thứ sẽ trơn tru”, Eleven nói thêm.
“Thôi ngay đi. Cô phải học cách làm như người bình thường.”, Theo phá lên cười trước điểm yếu không ngờ của vũ khí sống này.
*****
Khi họ trở về văn phòng Điều Tra Tội Phạm của Chi nhánh Delverro thuộc Cục Điều Tra Hình Sự, các đồng nghiệp trong đội đặc nhiệm điều tra Amalgam, Tobias Hillmyna và Emma Canary, đã ngồi chăm chú xem lại hồ sơ vụ án.
Emma mỉm cười chào Theo và Eleven.
“Rất mừng khi thấy hai người trở về bình an.”
“Nhưng chuyến đi đó chẳng thu được mấy manh mối”, Theo thở dài đáp lại. “Đây là tất cả những thứ tịch thu được từ nhà nghi phạm à?”
Tobias sắp xếp những tang vật ra bàn rồi liếc nhìn bảng điều tra với đống tài liệu và ảnh ghim đầy trên đó.
“Xem ra là vậy”, anh nói. “Hy vọng khi thẩm vấn hắn ta, chúng ta sẽ moi được thêm gì đó. Vụ này còn quá nhiều điểm mờ.”
Theo gật đầu đồng tình khi nhìn tấm bảng.
“Havel Price là kẻ cầm đầu đường dây lừa đảo các gia đình muốn nhận con nuôi. Hắn giả làm môi giới cho việc nhận nuôi những đứa trẻ không hề tồn tại, lấy phí rất cao rồi biến mất. Hết lần này đến lần khác.”
Price có gương mặt rất đáng tin. Những cây ghim trên bản đồ Adastrah đánh dấu lộ trình di chuyển của hắn. Bởi vì mỗi vụ lừa đảo đều diễn ra ở địa điểm khác nhau, thẩm quyền điều tra thuộc về các địa phương khác nhau nên không ai nhận ra rằng các vụ gian lận riêng lẻ thực chất đều do một kẻ gây ra.
Emma vén tóc vàng và tấm áo choàng Hội Pháp Sư sang một bên rồi lật xem tài liệu.
“Price giả vờ tìm gia đình nhận nuôi trẻ bị bỏ rơi và liên lạc với các nạn nhân. Tại địa điểm phỏng vấn, hắn nói với gia đình là họ sẽ được gặp đứa bé, nhưng thực ra chỉ cho họ xem một đoạn video 3D qua cửa sổ. Các nạn nhân còn được phép quay phim lại, nên họ chẳng nghi ngờ gì việc đứa bé đó chỉ là video…”
“Price độc thân, chưa từng kết hôn. Không con cái, cũng chưa từng làm việc ở bất cứ cơ sở y tế nào”, Tobias nói.
“Ban đầu hắn lừa gạt các nhà đầu tư. Luôn giữ quy mô lừa đảo dưới mức có thể lọt vào tầm ngắm của Cục Điều Tra Hình Sự. Hắn có thể biết cách di chuyển khắp cả nước và xóa dấu vết, nhưng không đời nào hắn có khả năng tự kiếm được một lũ trẻ như thế. Đó là lý do các điều tra viên nghi ngờ hắn có đồng phạm.”
Tobias thở dài rồi ghim những bức ảnh pháp y lên bảng để tấm ảnh gia đình Brouwer nằm cạnh ảnh hai vợ chồng chết thảm, người bê bết máu.
“Người chồng là Brecht Brouwer. Làm nghề sửa xe tự do, trước đó từng là lao công tại sở phúc lợi. Người vợ, Michelle, làm nội trợ. Người chồng tiếp cận nạn nhân, giả vờ thuộc nhóm hỗ trợ nhận con nuôi. Sau đó Michelle xuất hiện, dắt theo chính đứa con của mình, tạo quan hệ thân thiết với nạn nhân, giành được lòng tin. Cô ta sẽ kể về chuyện nhận con nuôi và giới thiệu Price như ân nhân của họ. Brecht cũng sẵn sàng đi cùng nạn nhân để gặp Price nếu cần, làm họ tin tưởng cặp đôi này hơn nữa. Các nạn nhân chắc cũng nghi ngờ cặp Brouwer thông đồng với Price.”
“Vấn đề là đứa bé mà nhà Brouwer nhận nuôi.”, Emma nhìn ảnh đứa bé trên tay Michelle Brouwer với vẻ mặt trăn trở.
“Họ đã thực hiện trò lừa đảo này ít nhất sáu tháng rồi. Thế mà các nạn nhân đều khai rằng đứa bé mới được giao cho nhà Brouwer, trông chỉ khoảng ba tháng tuổi. Không có đứa trẻ nào giữ nguyên kích thước suốt sáu tháng cả. Nếu chỉ là búp bê thì còn hiểu được, nhưng đứa bé này cười khóc, cử động như trẻ con thật, thậm chí có người còn bế nó. Vậy nên tất cả mới tin là đứa bé và chuyện nhận nuôi là thật.”
Tobias nghiêng đầu nhìn ảnh.
“Đứa bé trong video là trẻ sơ sinh. Cũng không khớp với độ tuổi đứa bé nhà Brouwer… Vậy rốt cuộc là sao?”
“Nếu Price là kẻ ra lệnh tất cả thì còn dễ điều tra hơn…”, Emma thở dài, đưa tay xoa trán.
“Đứa bé nhà Brouwer vẫn mất tích. Và với tình hình này, tôi nghĩ nó là một Amalgam… Những người phát hiện ra cặp vợ chồng cũng không thấy đứa bé, đúng không?”
“Đúng vậy.”, Tobias gật đầu.
“Tội nghiệp gia đình đó. Họ đến nhà Brouwer vì muốn tìm hiểu về chuyện nhận con nuôi. Không trách họ và cảnh sát địa phương bối rối.”
“Sự thật này quá quen thuộc với chúng ta rồi.”, Theo tựa lưng vào bàn làm việc, nhíu mày.
“Vết thương giống như bị ăn mòn. Dấu răng như của động vật, nhưng không có nước bọt. Chúng ta đã thấy kiểu này trong vụ trước. May mà chúng ta đã thông báo loại vết thương này cho cả nước thông qua cục. Cảnh sát địa phương cũng bán tín bán nghi nhưng vẫn liên lạc với chúng ta, nhờ vậy mới có vụ án này.”
“Nhưng nếu không tìm được đứa bé thì mọi thứ lại quay về vạch xuất phát.”, Emma quay sang Eleven, vẻ mặt nghiêm túc.
“Một Amalgam giả dạng em bé thì có khó không?”
“Không”, Eleven trả lời gọn lỏn.
“Chúng tôi có thể hoạt động với kích thước trung bình của trẻ sơ sinh nếu chỉ cần bắt chước các hành vi như ê a, biểu cảm gương mặt, cử động tay đầu. Lõi cũng sẽ nhỏ.”
Phần lớn Amalgam đều to lớn, mang vũ khí hạng nặng. Một Amalgam cỡ nhỏ rất khó sản xuất vì kích thước lõi phải đủ lớn để đa chức năng, nên thân máy cũng phải đủ chứa lõi. Nhưng nếu chỉ cần bắt chước chuyển động tối thiểu, không cần tính năng chiến đấu thì có thể thu nhỏ kích thước xuống cỡ em bé.
Vấn đề là làm sao một cặp đôi bình thường như Brouwer lại có được loại Amalgam này.
Eleven nói nhỏ.
“Roremclad đã nhân bản các Amalgam mà họ lấy từ phòng thí nghiệm và thành công tăng sản lượng thông qua các thí nghiệm và chế tạo hòn đá triết gia. Tôi cho rằng đứa bé trong vụ này cũng được kiếm từ đâu đó, nhưng hiện không có Amalgam lõi nhỏ như vậy đang lưu hành.”
“…Có vẻ như cặp đôi này không hề biết gì về công nghệ Amalgam. Vậy ai đó khác đang sản xuất hàng loạt giống như Roremclad từng làm? Hay…”, Theo rên rỉ.
Roremclad, giáo phái được thành lập để hiện thực hóa tham vọng của một kẻ cuồng tín. Nhân danh thống nhất lục địa, hắn đã chà đạp tất cả để tế thần, thậm chí hi sinh cả tín đồ. Hắn đã sản xuất hàng loạt Amalgam và tạo ra hòn đá giả kim đòi hỏi hàng ngàn sinh mạng. Cuối cùng hắn bị Eleven kết liễu, nhưng không trước khi gieo rắc cái chết khắp nơi.
Nếu các Amalgam Roremclad tạo ra vẫn tồn tại… Thì ác mộng sẽ trở lại.
Theo cau có nhìn bản đồ.
“Price đi khắp nơi, nhưng cặp Brouwer thì quanh quẩn gần nhà và những chỗ gặp nạn nhân. Chúng ta có thể lần theo dấu, nhưng chẳng tìm ra được Amalgam từ đâu ra. Họ không quen ai trong ngành y tế hay quân đội, không có giấy tờ nhận con nuôi.”
“Cách họ gặp Price cũng là bí ẩn”, Tobias thêm vào.
“Đó là lý do không ai phát hiện họ là đồng phạm suốt thời gian dài. Tôi thật sự muốn biết rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra.”
Tobias mở sổ ghi chép:
“Khi kể về đời tư, họ luôn nói cùng một câu chuyện: ‘Chúng tôi đau đớn khi mất con nên mới nghĩ đến nhận con nuôi, rồi may mắn được ban tặng đứa bé này.’ Dù có là nói dối thì câu chuyện lặp đi lặp lại này hẳn cũng dựa trên sự thật. Họ thật sự mất con ruột ba năm trước, và không có ghi chép nào Michelle sinh thêm con. Có lẽ họ thật sự nhận nuôi đứa bé này, nhưng Price không phải người môi giới.”
“Vậy thì… chúng ta cần Price tiết lộ những gì hắn biết.”, Emma nói, mặt sáng lên, nhưng Tobias lại nghiêm lại.
“Không.”, Anh lắc đầu. “Câu chuyện sẽ khác nhau tùy ai là kẻ khởi xướng, Price hay Brouwer. Sẽ tốt nếu Price biết gì đó, nhưng…”
“Tại sao?”, Emma thắc mắc. “Cũng có thể họ sản xuất hàng loạt Amalgam để giao con nuôi mà.”
“Nếu Price khởi xướng, hắn sẽ có thêm cộng sự ngoài Brouwer”, Theo nói.
“Họ có thể đã giao thật sự mấy đứa bé cho các gia đình. Nhưng nếu Brouwer khởi xướng, họ có thể giấu điều gì đó rất lớn và Price sẽ không biết gì.”
“Hơn nữa, tôi tò mò về Michelle”, Tobias nói, gấp sổ lại.
“Cô ta chỉ cho vài người bế đứa bé, toàn những cặp vợ chồng từng mất con. Chỉ bế một chút, dưới sự giám sát của cô ta.”
Emma nghiêng đầu. “Cô ta muốn an ủi những người đồng cảnh ngộ sao?”
“Tôi tự hỏi cô ta đang kiểm tra điều gì đó khi để họ bế đứa bé”, Tobias trông đầy suy tư.
“Giờ họ chết rồi, ta chỉ còn Price. Hắn chỉ là tay lừa đảo tầm thường vì tiền. Tại sao lại dây vào trò lừa đảo nhận con nuôi phức tạp thế?”
“Có khi hắn dùng trò này để thu thập người cùng hoàn cảnh”, Emma gợi ý. Cả phòng im lặng tiêu hóa giả thuyết ấy.
Theo trầm ngâm một lát rồi nói,
“Tobias, anh thẩm vấn Price cùng cảnh sát. Emma, cô xem lại tang vật, tìm mối liên hệ giữa Price và Brouwer — hoặc với Roremclad. Tôi và Eleven sẽ đến nhà Brouwer. Phải đào được gì đó về quá khứ của họ và nguồn gốc Amalgam.”
“Rõ. Tôi sẽ cố moi gì đó từ hắn.”, Tobias đáp rồi đi về phía phòng thẩm vấn.
Theo để lại mọi việc cho Emma rồi rời văn phòng cùng Eleven. Anh chẳng có thời gian để nghỉ.
Khi hai người lên xe, anh hỏi,
“Thế nào? Với tư cách Hound, cậu có lần ra dấu vết được không?”
“Cá thể này rất nhỏ cả về cơ thể lẫn lõi.”, Eleven trả lời. “Tôi cần ở gần để phát hiện; điều đó rất khó.”
Amalgam có lõi để vận hành. Với tư cách Hound, mẫu Amalgam đặc biệt, Eleven có chức năng truy vết lõi. Nhưng tín hiệu phụ thuộc vào kích thước lõi, mà lõi này quá nhỏ nên không dễ dò. Họ sẽ phải điều tra hướng khác.
“Tôi đoán Amalgam này cũng đã rời khỏi hiện trường”, Theo nói.
“Amalgam của Roremclad từng dùng hệ thống cống ngầm”, Eleven đáp.
“Amalgam này cũng có thể đã đi xa nếu nó dùng lối tương tự.”
“Còn lý do nó bỏ đi?”, Theo dừng lại, nhìn Eleven đang ngước lên nhìn anh. “Roremclad muốn giấu Amalgam khắp Delverro trước khi tấn công, nên dùng cống ngầm để phân tán. Nhưng Amalgam này thì sao?”
“Nếu cá thể này được giao nhiệm vụ sát hại Brouwer, tôi giả định nó quay về điểm hẹn. Nhưng tôi không thể đoán được điểm đó.”
“Có thể nó trở về chỗ chỉ huy”, Theo nói.
“Với Roremclad, chúng ta biết rõ Jim Kent là kẻ cầm đầu. Còn lần này…”
“Chồng Brecht, vợ Michelle. Nếu một trong hai là chỉ huy, nghĩa là Amalgam đã giết chỉ huy của nó, điều đó trái nguyên tắc hoạt động. Nhưng ta không đủ thông tin để xác định ai khác là chỉ huy hay điểm hẹn.”
“Amalgam sẽ không giết chỉ huy à?”, Theo tò mò.
“Không.”, Eleven lắc đầu. “Amalgam có bản năng tuân lệnh, nên chỉ huy được bảo vệ nghiêm ngặt.”
“Vậy nếu chỉ huy không thể ra lệnh thì sao?”
“Trên chiến trường, khi chỉ huy chết hoặc không thể ra lệnh, quyền kiểm soát sẽ chuyển cho quân nhân cấp cao gần nhất hoặc cho Hound như tôi. Amalgam thường sẽ đến tọa độ định sẵn, căn cứ tuyến đầu hoặc điểm tập kết, và chờ lệnh.”
“Cũng tiện khi biết được hành vi của Amalgam sau khi chỉ huy chết.”, Theo lên xe, thắt dây an toàn rồi cài địa chỉ nhà Brouwer vào hệ thống định vị.
“Chúng ta sẽ xem họ từng đến đâu và có manh mối gì không. Nếu không tìm được Amalgam hay thông tin hữu ích… ta sẽ liên lạc quân đội, kiểm tra xem có Hound nào quanh đây không.”
“Đã rõ.”, Eleven đáp khi Theo cho xe lăn bánh.
Tò mò, anh không nhịn được hỏi, “Nhân tiện, chúng ta có nên bàn chuyện nếu tôi chết thì sao không?”
“Tiền đề đó vô nghĩa.”
“Ha-ha, thế à?”, Anh bật cười, vẫn là phong cách trả lời rất Eleven.
*****
Khi Tobias bước vào phòng thẩm vấn, Havel Price giật bắn người rồi co rúm lại. Tobias bày ra những bức ảnh chụp thi thể vợ chồng Brouwers và chăm chú quan sát nét mặt của Price. Price nhảy lùi lại một cách kịch liệt, khiến còng tay trên người anh ta kêu lách cách.
“Ê!”, hắn la lên. “Mấy tấm hình kinh dị này là sao?!”
“Là nhà Brouwers đấy. Cặp vợ chồng giúp anh lừa đảo.”, Tobias lạnh lùng nói. “Anh giết họ để bịt miệng à?”
“Không! Tôi không giết ai cả! Tôi chỉ muốn tiền thôi. Tôi không phải kẻ giết người—”
“Cũng là một trò bẩn thỉu đấy. Làm thế với hai vợ chồng, rồi lại tính ra tay với đứa bé của họ. Một đứa bé không có khả năng tự vệ.”
“Không đời nào!”, Price hét lên, giọng càng lúc càng to. “Tôi còn có giới hạn của mình! Tôi không bao giờ giết ai, càng không phải giết trẻ con!”
Mồ hôi rịn ra trên trán hắn, tay run lên bần bật. Hắn thở hổn hển, hất những tấm hình xác chết ra xa và cố ngồi lùi lại để tránh xa chúng.
Price là một tay lừa đảo, và hắn đã làm hại không ít người. Nhưng Tobias thấy hắn có vẻ không nói dối lần này.
Đây chỉ là một trò đánh lạc hướng đơn giản, nhưng hắn phủ nhận kịch liệt như vậy thì chắc là không biết gì thật về vụ giết vợ chồng Brouwers, chứ chưa nói gì đến đứa trẻ được nhận nuôi…
Sau một lúc quan sát, Tobias ngồi xuống ghế đối diện.
“Thật à? Nghĩa là anh còn có chút lương tâm. Vậy anh đã từng buôn bán trẻ con thật chưa?”
“Làm như tôi đã làm ấy! Tôi không làm vậy! Tôi… tôi có nguyên tắc riêng, tôi không động tới hàng thật. Tôi toàn dùng đồ giả đủ giống, rồi cuỗm tiền…”
Có lẽ ngay cả hắn cũng cảm thấy những lời bào chữa của mình bắt đầu sáo rỗng; giọng Price yếu dần, chỉ còn như tiếng thì thầm. Hắn đang nói thật. Thực ra, hắn đã thực hiện hết trò lừa này đến trò lừa khác, bán những thứ không tồn tại. Lần này cũng chỉ là trò nhận con nuôi nhưng đứa bé thì không có thật.
Nhưng cái trò đó đã biến thành thứ gì đó lớn hơn nhiều.
“Cứ cho là tôi tin anh”, Tobias bắt đầu.
“Anh có manh mối gì về việc tại sao nhà Brouwers bị giết không? Có ai trong số các nạn nhân của vụ lừa đảo muốn họ chết không?”
“Sao họ phải làm vậy?”, Price lắc đầu.
“Họ chỉ là gia đình bình thường, có chút khó khăn tiền bạc thôi. Tôi thì xấu xa thật đấy, nhưng mọi người tin tưởng nhà Brouwers mà.”
“Gia đình bình thường thì không tham gia lừa đảo. Anh lôi họ vào thế nào?”
“Lôi họ vào á? Ý tôi là… A, tôi không rõ. Chuyện nó cứ như…”,
Price căng thẳng, búng móng tay liên tục và nhìn đi chỗ khác, cứ mỗi lần mắt hắn chạm vào mấy tấm ảnh chết chóc là lại co rúm sợ hãi. Lần này hắn không còn là một tay lừa đảo đang diễn kịch; hắn chỉ là con người bình thường thực sự hoảng sợ.
“Price”, Tobias nói dứt khoát. “Nói tôi nghe anh gặp nhà Brouwers lần đầu thế nào?”
“Gặp họ lần đầu…?”, Price nhắc lại.
“Ờ thì… Tôi lừa đứa em gái Brecht trước. Rồi không hiểu sao hắn tìm được tôi. Hắn bảo nếu tôi giúp hắn giải quyết một chuyện thì hắn sẽ ngăn em gái đi tố cáo tôi với cảnh sát.”
Tobias mở to mắt. Anh không ngờ chuyện lại ra thế. Anh ghi chép lại và giục Price nói tiếp.
“Vậy là Brecht tìm anh. Vấn đề của hắn là gì?”
“Hắn bảo hắn gây rắc rối ở chỗ làm, văn phòng phúc lợi. Có cặp đôi này không đủ điều kiện nhận con nuôi mà hắn lại duyệt cho họ. Thành ra chẳng có đứa bé nào cho họ nhận cả, mà nếu sếp hắn biết thì hắn mất việc chắc. Hắn hoảng lắm.”
Tobias nhướng mày nghi ngờ.
“Rồi hắn quay sang nhờ một tay lừa đảo?”
“Hắn nhờ tôi dàn dựng một vụ nhận con nuôi giả để ém nhẹm chuyện đó đi”, Price giải thích. “Tôi kiếm được tiền, hắn thì che giấu được sai lầm. Hắn bảo ‘cả hai bên cùng có lợi, tại sao không?’”
“Hắn chắc là tuyệt vọng lắm.”
“Tôi hiểu tại sao hắn cuống. Vợ hắn vừa mới sinh con mà. Không phải lúc mất việc rồi ra đường, hiểu chứ? Tôi thì kiếm thêm tiền càng tốt, nên tôi đồng ý ngay. Chưa từng làm ăn theo nhóm bao giờ, tôi cũng chẳng biết gì về mấy vụ nhận con nuôi, nhưng luật chơi cơ bản thì không đổi.”
Price quệt mồ hôi trên trán.
“Nhưng tôi muốn mọi thứ trông thật hơn, nên tôi bảo hắn đưa tôi đoạn video đứa trẻ. Có video 3D rồi cho người ta nhìn qua cửa kính, ai mà nghi ngờ? Tôi cần người ta tin là có đứa trẻ để nhận nuôi mà. Brecht bảo ‘được thôi, cần gì tao lo’ rồi đưa video cho tôi.”
“Có nghĩa là anh dùng đoạn video Brecht đưa cho mọi khách hàng?”
“Đúng.”, Price gật đầu. “Chắc hắn quay được ở văn phòng phúc lợi, hắn quay phòng đứa trẻ thật. Tôi cắt ghép đoạn video rồi cho chiếu lặp đi lặp lại, lúc nào cũng có y tá vào kiểm tra đứa trẻ khi khách tới. Mà khách chỉ được nhìn đứa trẻ qua cửa kính thôi. Video thật mà, ai nghi ngờ gì.”
“Brecht có nói anh biết phòng đứa trẻ ở đâu hay quay lúc nào không?”
“Không. Hắn chỉ bảo ‘Đây, video đây, muốn làm gì thì làm’ rồi xong. Nhờ video đó mà vụ lừa này mới trót lọt. Tôi cũng chẳng muốn đào sâu làm gì.”
“Đúng. Cũng hợp lý”, Tobias đồng tình rồi gửi tin cho Emma: Video thật. Sau đó, anh giả vờ không biết gì hỏi tiếp,
“Anh chỉ gặp Brecht trực tiếp? Còn gia đình hắn thì sao?”
“Ý anh là Michelle và Basil á? Tôi cũng gặp rồi, nhưng chỉ một lần, lâu rồi. Basil lúc đó mới sinh, nhìn hai vợ chồng rồi bi bô như muốn nói gì ấy. Dễ thương phết. Còn vợ hắn thì trông bình thường. Nhưng Brecht bảo chưa nói cho cô ta chuyện lừa đảo, nên tôi hơi căng thẳng khi gặp cô ta.”
“Vậy là…”, Tobias cau mày. “Michelle tưởng họ đang làm thủ tục nhận con nuôi thật?”
“Tôi không muốn chọc vào tổ ong vò vẽ nên không hỏi… Nhưng nhìn cô ta không có kiểu người đang giấu diếm gì cả. Brecht bảo chưa kể chi tiết nên tôi nghĩ cô ta không biết.”, Price có vẻ bồn chồn.
“Vụ này trôi chảy quá mức, tôi cũng thấy bất ngờ. Tôi còn được thể lấn tới, hiểu không? Ý tôi là, hắn che giấu được lỗi lầm, nhưng hắn vẫn có bí mật mà hắn không muốn ai biết.”
Tobias nheo mắt. “Anh dọa sẽ nói ra nếu hắn không tiếp tục hợp tác?”
Price lại quệt mồ hôi và gật đầu, mặt mũi chán chường.
“Tôi có nhiều mối nhờ hắn. Hắn đưa danh thiếp tôi cho những người đang tuyệt vọng ở sảnh chờ. Ai muốn nhận con nuôi thì tự tìm tôi. Tôi cầm tiền rồi biến. Xong lại tiếp tục. Tôi chỉ tới để đưa phần của Brecht. Tôi tuyệt đối không giết ai cả”, hắn nhấn mạnh.
Tobias tạm gác lại, “Hừm”, rồi hỏi tiếp, “Cho chắc, Brecht làm việc ở văn phòng phúc lợi, lo giấy tờ cho người nhận con nuôi đúng không?”
“Đúng. Hắn bảo làm giấy tờ, gặp khách muốn nhận con nuôi. Thật sự có nhiều người gọi tôi là nhờ hắn. Hắn bảo gặp mấy người tuyệt vọng trong sảnh, ngồi an ủi rồi đưa danh thiếp tôi.”
“Vậy anh cũng chẳng làm việc trực tiếp với gia đình Brouwers lắm, đúng không?”
“Đúng.”, Price gật mạnh.
“Tôi chỉ gặp Brecht ở mấy buổi gặp con nuôi với lúc đưa phần tiền. Cả gia đình chỉ gặp một lần. Tôi chưa bao giờ tới nhà họ cả.”
“Cảm ơn. Thanh tra phụ trách vụ của anh đang chờ. Anh kể hết mấy trò lừa đó cho ông ấy nghe nhé.”
Tobias kết thúc cuộc thẩm vấn rồi đổi chỗ với viên thanh tra. Anh đứng sau tấm kính một chiều, mở hồ sơ điều tra và cau mày.
Tại sao Brecht lại nói dối chồng chất như vậy? Đúng là hắn làm việc ở văn phòng phúc lợi, nhưng chỉ là lao công. Hắn không dính dáng gì đến giấy tờ nhận con nuôi cả. Basil lại là tên đứa con ruột đã chết của hắn, nhưng Price thì tin rằng mình đã gặp đứa con ruột, không phải con nuôi. Hồ sơ y tế của Michelle cũng không ghi nhận việc cô ta sinh con vào thời điểm Brecht tìm đến Price.
“Vậy ra còn có chuyện gì khác với nhà Brouwers.”, Tobias thở dài và gửi kết quả thẩm vấn cho Theo.
*****
Emma ôm đầu trong tay, xung quanh là những thùng chứng cứ chất đống. Cô đã lục soát mọi thứ trong các thùng và toàn bộ hồ sơ vụ án, nhưng chẳng có gì liên kết được Price với Roremclad. Với nhiều năm kinh nghiệm làm kẻ lừa đảo, rõ ràng Price rất giỏi trong việc xóa sạch dấu vết của mình. Họ thậm chí đã chẳng biết về mối liên hệ của hắn với nhà Brouwers nếu không nhờ lời khai của nhân chứng.
“Không ích gì khi đào sâu hơn về phía Price nữa. Vậy còn lại là… đoạn video này sao?”
Đoạn video mà Tobias khẳng định là hàng thật. Cô lại tập trung xem kỹ nó từ đầu. Cô rất muốn xác định chính xác địa điểm của phòng trẻ sơ sinh trong video và khoảng thời gian nó được quay.
Price tin Brecht và cho rằng video đó quay một phòng trẻ thật sự. Vậy thì địa điểm, y tá, và đứa trẻ chắc chắn phải tồn tại ở đâu đó ngoài đời.
Đó là một bản dựng lại cảnh quay 3D, mọi thứ trong phòng đều hiện rõ trên màn hình, trừ khung cửa ra vào. Nhưng những phần mà camera không kịp ghi lại thì đều bị cắt đi. Lý do Price để các cặp cha mẹ đến xem đứa bé qua cửa sổ là để không ai phát hiện ra những chi tiết nhỏ không khớp. Và vì những nạn nhân ấy đến để nhận con nuôi, nên họ sẽ tập trung toàn bộ sự chú ý vào đứa bé mà gần như bỏ qua căn phòng.
“…Về công nghệ, về phép thuật, video này đúng là thật.” Emma lẩm bẩm. “Nhưng vẫn có gì đó khiến mình thấy cấn cấn.”
Trong phòng không có cửa sổ, cô không thể xác định mùa nào qua đồ vật hay đồng phục của y tá. Cô cũng không biết tên y tá, mà giữa khẩu trang và đồng phục, Emma chẳng nhìn rõ được mặt mũi hay vóc dáng. Nhưng cô biết chắc đó là một nữ y tá, có dùng tay giả bên trái, và chắc chắn không phải là Michelle hay ai đó trong họ nhà Brouwers. Cô đã tìm nhưng không thấy bất cứ thứ gì ghi tên hay ngày sinh của đứa bé.
Khi y tá nhận ra người đang quay phim, cô ta bế đứa bé lên và quay về phía ống kính với nụ cười tươi. Emma dừng video lại tại đây và nghiêng đầu suy nghĩ.
“‘Ôi, em bé dễ thương quá! Tôi quay chút nhé?’ ‘Vâng, cứ tự nhiên.’ Liệu họ có một đoạn hội thoại như thế không nhỉ? Ý mình là, y tá phải biết chuyện riêng tư này quan trọng thế nào mà—” Emma đập trán và kêu lên như chợt hiểu ra. “A! Đúng rồi! Phải rồi! Nếu đó là cha mẹ đứa bé thì y tá mới cười tươi thế chứ! Mình ngốc quá! Lẽ ra phải nhận ra sớm hơn mới đúng.”
Cô thở dài một hơi dài rồi lại giơ tay đấm nhẹ lên trán. Cốc. Brecht không quay video này riêng cho vụ lừa đảo; hắn ta đã đưa cho Price đoạn băng từ khi chính con trai hắn chào đời ba năm trước.
Một đoạn video quý giá ghi lại đứa con trai đã mất chỉ ba tháng sau khi sinh. Một ký ức trân quý từ thời mà không ai nghĩ rằng đứa trẻ sẽ ra đi chóng vánh đến vậy. Emma chưa từng có con và cũng không quen ai có con nhỏ. Nhưng liệu một bậc cha mẹ có thực sự mang thứ báu vật như vậy đi giao cho một tên lừa đảo, hình ảnh của đứa con ruột thịt đã rời bỏ thế gian này quá sớm?
Emma vội vàng nhắn tin cho Theo. Nếu đó thực sự là đoạn quay con trai nhà Brouwers, thì bản gốc chắc chắn vẫn còn ở nhà họ.
*****
Theo dừng xe trước nhà của vợ chồng Brouwers và xuất trình thẻ điều tra viên cho viên cảnh sát đang làm nhiệm vụ tại đó. Viên cảnh sát gật đầu rồi vén dải băng niêm phong hiện trường cho họ. Theo gật đầu cảm ơn rồi bước vào sân, kéo theo Eleven đi cùng.
Hai vợ chồng sống trong một căn nhà riêng, tách biệt với những căn bên cạnh, nằm trong một khu dân cư yên tĩnh ở vùng ngoại ô Delverro gần núi. Ngôi nhà hai tầng và khu vườn đều được chăm sóc cẩn thận. Những luống hoa theo mùa nở rực rỡ trong vườn, dễ dàng hình dung ra cảnh cặp đôi này ngồi thư giãn trên chiếc ghế dài ở hiên nhà.
Theo kiểm tra cửa trước và nhận thấy không có dấu hiệu bị cạy phá, đúng như báo cáo của cảnh sát đã ghi. Theo lời khai của những người phát hiện ra hai nạn nhân, khi họ bấm chuông thì không thấy ai trả lời, cửa vẫn khóa. Chỉ đến khi họ nhìn qua cửa sổ hướng ra vườn thì mới phát hiện ra thi thể. Dựa trên việc tờ báo buổi sáng vẫn còn trên bàn ăn, hai vợ chồng ít nhất vẫn còn sống cho đến khi tờ báo được giao hôm đó. Thời điểm tử vong được ước tính vào khoảng chín giờ sáng.
Theo bước vào nhà, đeo găng tay cao su y tế rồi hỏi: “Eleven, có tín hiệu Amalgam nào không?”

“Trong nhà và khu vực lân cận không phát hiện bất cứ tín hiệu Amalgam nào”, Eleven trả lời anh.
“An toàn. Tôi sẽ tìm đường thoát hiểm.”
“Cảm ơn. Báo cho tôi khi nào tìm ra. Tôi sẽ bắt đầu kiểm tra tầng một.”
“Tôi sẽ quay lại sớm.”
Theo nhìn Eleven chạy đi trước rồi lần lượt đi vòng quanh các phòng.
Cảnh sát đã bảo vệ hiện trường ngay lúc phát hiện ra vụ án, nên ngôi nhà vẫn giữ nguyên trạng thái khi đó. Trong phòng khách, nơi tìm thấy thi thể hai vợ chồng, chiếc TV vẫn còn bật. Điều gì đã phá tan khung cảnh gia đình ấm cúng đó? Máu, giờ đã chuyển sang màu đen xỉn, bắn ra thành vòng tròn rộng trên ghế sofa, bàn trà và tấm thảm, với điểm xuất phát từ chiếc nôi bị lật nghiêng bên cạnh sofa.
“Nếu chỉ để giết người thì làm vậy là quá mức cần thiết. Mà cũng còn quá nhiều phần thi thể sót lại để có thể nói Amalgam ăn thịt. Tại sao Amalgam lại làm thế này?”
Theo lật hồ sơ vụ án, nhớ lại những bài học rút ra từ cuộc điều tra trước. Hai vợ chồng bị thương rất nặng, nhưng phần cơ thể duy nhất bị mất hoàn toàn là vùng bụng dưới của người vợ. Nếu Amalgam chỉ chọn ăn đúng phần đó thì liệu người vợ có giấu bí mật gì không?
Theo lời chuyên gia pháp y Isco Rocky, cặp đôi này vốn rất khỏe mạnh. Vết thương giống như dấu răng động vật, nhưng không tìm thấy nước bọt, cả hai đặc điểm đều thường thấy ở những con mồi của Amalgam. Phần bụng dưới của người vợ bị ăn mất, nhưng khác với các nạn nhân trong vụ án trước, lần này dường như phần đó bị xé toạc từ bên ngoài. Có phải đây là một loại Amalgam khác với con mà Roremclad đã sử dụng?
Dựa vào lượng máu mất đi, Amalgam chắc chắn cũng bị máu bắn dính, nhưng có lẽ nó đã lau sạch máu lên thảm; sàn nhà không có vết máu nào. Vẫn chưa rõ Amalgam đã rời khỏi phòng khách bằng cách nào. Theo để câu hỏi đó cho Eleven và tiếp tục tìm kiếm manh mối về cuộc sống thường nhật của hai vợ chồng.
Họ đã sống bình lặng với vai trò chồng, vợ và đứa trẻ. Ảnh chụp trang trí đầy trên lò sưởi và xung quanh, số ảnh của đứa con đã mất và đứa trẻ họ nhận nuôi gần như ngang nhau. Hai đứa bé trông giống nhau như anh em ruột. Tuy nhiên, thật kỳ lạ khi trong bếp không có bình sữa hay sữa bột. Và căn nhà gọn gàng đến mức khó tin rằng ở đây có nuôi em bé. Dù hai vợ chồng gần như luôn ở nhà, thì nơi này vẫn quá sạch sẽ.
Theo quay trở lại hành lang vừa đúng lúc gặp Eleven.
“Không có cửa sau”, cô báo cáo. “Nhưng cửa sổ phòng tắm mở.”
“Được rồi. Đi xem thử nào.”
Theo vào phòng tắm để kiểm tra. Quả thật, chiếc cửa sổ nhỏ nhô ra ngoài đang mở. Có vẻ nó được dùng để thông gió; nó cao đến mức Eleven nhỏ bé cũng không thể với tới.
“Độ cao hay chiều rộng có quan trọng với Amalgam không?”, anh hỏi cô.
“Không”, Eleven đáp ngay.
“Chúng có thể di chuyển dọc theo tường. Với cơ thể linh hoạt, nó thậm chí có thể chui qua khe nứt. Nếu giả định nó thoát ra bằng cửa sổ này, ta có thể lần ra đường thoát và xác minh.”
Anh cũng kiểm tra tủ chứa đồ cho chắc chắn và tìm thấy dụng cụ làm vườn cùng các vật dụng trái mùa, bên cạnh đó còn có một thùng nước dự trữ khẩn cấp và một loạt đồ hộp.
“Không có bỉm tã à?”, Anh nhíu mày. “Món đó thì bắt buộc phải có chứ.”
“Cũng không có vải giống bỉm trong phòng giặt. Liệu có phải hai vợ chồng đã nuôi đứa bé với đầy đủ nhận thức rằng nó không phải con người mà chỉ là bản sao Amalgam của một đứa trẻ sơ sinh?”
“Khả năng cao nếu họ không chuẩn bị tã. Không rõ họ cảm thấy thế nào về chuyện đó.”
Sau khi xem xét mấy món trên kệ, Theo cầm một chai chất lỏng màu xanh lá lên. Anh mở nắp, mùi cỏ phảng phất bay ra.
“Có vẻ là loại thuốc mỡ tự chế.”
“Hồ sơ của họ không ghi nhận kiến thức về thảo dược. Có lẽ họ tự nghiên cứu?”, Eleven gợi ý.
“Khoan đã.”, Anh chăm chú nhìn vào chai.
“Có vết nhãn còn sót lại. Tôi chỉ đọc được vài chữ… Họ mua ở tiệm thuốc tên bắt đầu bằng ‘Ki’. Liệu bột thuốc này cũng từ đó mà ra?”
“Đó là phương thuốc dân gian phổ biến. Không chứa chất nguy hiểm.”
“Dù sao thì cũng mang về làm bằng chứng. Sẽ phiền phức nếu có gì đó bất hợp pháp.”, Theo bỏ thuốc mỡ vào túi đựng tang vật, rồi cẩn thận lấy các loại thảo mộc khô và bột thuốc bỏ riêng ra túi khác.
“Hắn nói các nạn nhân tới nhà để bàn chuyện nhận con nuôi. Lạ là nhà Brouwers lại không bày biện gì để khoe chuyện đã có con nuôi.”
“Những người đến thăm có thể nghĩ rằng họ đã dọn dẹp trước khi tiếp khách. Hoặc họ có thể cho rằng đồ đạc trẻ em cất hết trên lầu.”
“Ờ, con người chỉ nhìn thấy điều họ muốn thấy mà thôi.”, Theo nhún vai. “Lên lầu nào.”
“Anh muốn để việc xác minh đường thoát của Amalgam lại sau à?”, Eleven ngước lên nhìn anh hỏi.
“Mmm. Tôi muốn làm rõ sự thật về hai vợ chồng và quá khứ của họ trước đã. Con Amalgam sẽ không gây án ngay sau khi thực hiện lệnh giết họ.”
Họ đóng tủ lại rồi leo cầu thang lên tầng hai.
“Theo lời khai Tobias”, Theo nói
“Brecht Brouwer đã nói dối Price để lôi hắn vào vụ lừa đảo. Hắn không nói mình là lao công hay bảo trì, mà bảo là nhân viên của văn phòng phúc lợi. Hắn cũng giấu vợ, Michelle, chuyện lừa đảo con nuôi. Hắn đã giấu điều gì đó. Không chừng bí mật đó chính là danh tính chỉ huy thực sự của Amalgam.”
“Price chỉ là tên lừa đảo mà Brecht lợi dụng. Hắn chẳng biết gì. Nếu chỉ huy là người có liên quan đến hai vợ chồng, ta sẽ phải điều tra cả những mối quan hệ bạn bè không công khai, chưa kể họ hàng thân thích.”
“Đó mới là khó. Nếu Brecht giấu giếm điều gì, thì ta sẽ tìm thấy nó ở đâu? Tôi chọn phòng làm việc.”
“Vậy tôi đề xuất khả năng phòng ngủ.”
Theo bắt đầu kiểm tra căn phòng cuối hành lang: phòng làm việc. Với kệ sách, bàn làm việc và chỉ một chiếc ghế, có vẻ đây là không gian riêng của người chồng. Trên bàn có đủ loại công cụ dành cho người thuận tay trái và một chiếc đồng hồ bị tháo mặt sau, trong ngăn bàn thì đầy sổ tay và linh kiện cơ khí. Kệ sách chứa sách kỹ thuật cùng những cuốn sách tự lực về cách đối phó với đau buồn và trầm cảm, cho Theo thấy được hai vợ chồng đã đau đớn thế nào trước mất mát của đứa con. Nhưng anh nhận thấy phần lớn những cuốn sách này viết cho người làm công tác hỗ trợ người trầm cảm.
“Michelle từng bị trầm cảm sao?”, anh hỏi khi lật qua mấy cuốn sách.
“Hồ sơ y tế không ghi nhận gì”, Eleven trả lời.
“Xét theo các loại thuốc dân gian trong tủ, có thể họ đã không sử dụng bảo hiểm y tế nên tình trạng này không được ghi nhận.”
“Cũng có lý.”, Anh gật đầu chậm rãi. “Vậy nên sẽ khó mà lần ra bằng hồ sơ bệnh án.”
Họ lục soát kỹ phòng làm việc, nhưng chỉ tìm thấy tài liệu liên quan công việc, các hợp đồng bảo hiểm và giấy tờ làm ăn. Không có gì liên quan trực tiếp đến vụ án hiện tại. Tiền mặt để trong hộp bình thường chứ không cất trong két sắt.
“Vậy là không có gì”, Theo nhận xét.
“Album ảnh thì để ở phòng khách, nên tôi đoán đây chỉ là phòng làm việc. Lương của hắn không đủ vì lý do gì đó, và hắn không tìm được cách xoay xở, nên mới quay sang lừa đảo.”
Thùng rác trong phòng chứa đầy giấy tờ từ chối cho vay. Nhưng nhìn ngôi nhà thì họ không sống hoang phí, cũng không có món đồ xa xỉ nào.
“Hắn có công việc ổn định mà vẫn cần tiền”, Theo nói. “Vậy họ đã đổ tiền vào đâu?”
“Cũng không có tài liệu nào liên quan đến đứa trẻ”, Eleven lưu ý. “Không đứa con ruột, càng không đứa con nuôi.”
“Ta nên xem phòng ngủ thử. Có khi họ chỉ đơn giản là quản lý tiền bạc kém.”
Theo bước về phía phòng ngủ, đầu óc vẫn chưa thực sự thông suốt. Eleven lặng lẽ theo sau anh.
Dựa vào tình trạng ga giường, chỉ có một người nằm trên chiếc giường đôi. Nhưng bàn trang điểm và tủ quần áo cho thấy cả hai vợ chồng đều dùng, vậy là họ vẫn chia sẻ phòng này.
Eleven bước lại gần giường, nhặt một sợi tóc trên gối.
“Tóc ngắn, nâu. Vậy Brecht đã ngủ ở đây.”
“Hmm.”, Theo nhìn quanh. “Không có món đồ hiệu đắt tiền hay đồng hồ sang trọng. Họ sống rất giản dị.”
Họ lục soát mọi ngóc ngách của phòng ngủ nhưng không tìm thấy két sắt hay hộp đựng tài liệu. Trang sức để trong ngăn bàn trang điểm, còn đồ giá trị thì gom lại trong hộp nhỏ trong tủ.
“Vợ chồng Brouwers có thói quen đặt những thứ quan trọng trong tầm mắt”, Eleven nói khi quan sát khắp phòng.
“Ta có thể suy ra rằng họ cũng sẽ để tài liệu quan trọng ở nơi dễ thấy.”
Nghĩ vậy, Theo lại lia mắt một vòng quanh phòng ngủ. Mỹ phẩm, nước hoa, trang sức, đồ giá trị, tất cả đều để lộ ra ngoài. Chìa khóa và khăn tay đặt trên tủ giày ở lối vào, còn ảnh thì bày ở phòng khách rất rõ ràng. Rõ ràng họ có thói quen như thế.
“Đúng vậy”, Theo nói.
“Vậy chìa khóa là nơi họ dành phần lớn thời gian. Nếu chỉ có người chồng ngủ trong phòng ngủ, vậy… người vợ ở phòng đứa bé cùng với đứa con nuôi sao?”
Theo vội vàng mở cánh cửa có tấm biển ghi BABY.
Căn phòng sáng sủa, được trang trí bằng những gam màu pastel, sàn trải thảm mềm, đồ chơi và sách tranh bày khắp nơi. Nhưng không món nào trông như đã được dùng. Bên cạnh chiếc nôi là một chiếc giường đơn. Đúng như anh đoán, người vợ đã ngủ trong phòng của đứa bé. Nhưng theo như anh thấy, ngoài chăn ga và đồ chơi ra thì không có gì khác.
Anh đưa tay chạm vào chiếc nôi. Song chắn bên cạnh giường đã bị cắt bằng một lưỡi dao nào đó.
“Họ có thể đã mua loại nôi có thể hạ song chắn xuống”, anh nói.
“Vậy sao lại mất công cắt song chắn ra như thế?”
“Sẽ hiệu quả hơn nếu mẹ và con cùng nằm trên giường đôi”, Eleven điềm tĩnh nhận xét.
“Đúng vậy.”, Theo gật đầu.
“Có lẽ là vì sự gắn bó về mặt tình cảm. Dấu hiệu sử dụng duy nhất tôi thấy ở đây là chiếc nôi.”
Anh lùi lại, so sánh chiếc nôi với phần còn lại của căn phòng. Giường và đồ chơi còn mới. Nhưng chiếc nôi, giấy dán tường và món đồ treo quay nôi thì đã cũ và phai màu. Thêm nữa, chiếc nôi là loại chắc chắn, chất lượng cao, trong khi chiếc giường lại rẻ tiền, làm đơn giản.
“Có lẽ đây là chiếc nôi họ mua khi con họ chào đời”, anh nói, nhìn chăm chú vào nó.
“Họ rất gắn bó với nó và dùng nó làm giường cho đứa trẻ được nhận nuôi, thay vì bỏ không hay vứt đi khi đứa con ruột qua đời. Nhưng vì lý do nào đó, mẹ và con lại cần ngủ sát bên nhau, gần đến mức phải gỡ song chắn nôi.”
“Theo lời khai của các nạn nhân lừa đảo, người vợ luôn bế đứa bé. Dù có ai bế Basil thì Michelle cũng luôn ở ngay bên cạnh. Trong khi đó, người chồng lại di chuyển tự do. Việc ở gần đứa bé, con Amalgam, chỉ cần thiết với Michelle.”
Theo tựa lưng vào chiếc nôi, thở dài nhẹ.
“Cặp đôi bị con Amalgam sát hại. Nghĩa là không ai trong số họ là chỉ huy. Nhưng con Amalgam lại phải ở gần Michelle. Có ý kiến gì không?”
“Tình huống cụ thể thì chưa rõ. Nhưng có thể người vợ, Michelle, giữ lõi bên trong cơ thể”, Eleven đưa ra giả thuyết khi cô nằm xuống giường đơn. Cô duỗi cánh tay mảnh khảnh về phía chiếc nôi.
“Nếu lõi có kích thước tương ứng với cơ thể con Amalgam, thì nó không thể cách xa lõi quá nhiều. Nếu giả sử lõi nằm trong cơ thể người vợ, tôi cho rằng phạm vi di chuyển có thể nằm trong tầm với của tay cô ấy.”
“Hmm. Có cơ sở nào để tính khoảng cách đó không?”
“Mặc định, lõi của một Amalgam thường nặng bằng 1/20 trọng lượng cơ thể vật lý của nó”, cô giải thích trơn tru.
“Nếu ta lấy cân nặng trung bình của một đứa trẻ ba tháng tuổi là sáu kilogram, thì lõi sẽ nặng ba trăm gram, đường kính khoảng ba centimet. Vậy khoảng cách nó có thể di chuyển ra khỏi lõi sẽ tầm sáu mươi centimet. Con số này gần bằng chiều dài cánh tay phụ nữ. Có phải đây là lời giải thích hợp lý cho việc mẹ và con phải gần nhau không?”
Theo cảm thấy đầu mình bắt đầu đau nhức, giơ tay ra hiệu cho Eleven dừng lại.
“Cảm ơn phân tích chuyên gia.”
“Anh hỏi cơ sở tính toán nên tôi chỉ trả lời thôi.”,
Eleven nắm lấy tay Theo, để anh đỡ cô dậy. Đôi mắt xám của cô nhìn thẳng anh.
“Đó là tất cả các phòng chính. Hiện tại, ta đã xác định cặp đôi này sống cùng đứa con nuôi, biết rõ nó là Amalgam, và dù cuộc sống có vẻ ổn định, họ vẫn gặp vấn đề tài chính.”
“Nếu giả sử họ phải lừa đảo để kiếm tiền”, Theo lẩm bẩm,
“vậy điều gì đã kích thích con Amalgam ra tay giết họ? Nếu đó là nhiệm vụ của nó, sao nó lại ngoan ngoãn giả làm đứa bé suốt sáu tháng? Nó có từ khóa hay cơ chế gì khiến nó trở nên hung hãn, giống như với Roremclad không?”
Anh cau mày. Càng điều tra về cặp vợ chồng tưởng như bình thường này, anh lại càng không hiểu họ thực sự là ai.
“Ít nhất, chúng ta đã xem hết các phòng và xác định được một điều”, Eleven nói khẽ. “Hãy quay lại phòng khách.”
“Phòng khách?”, Anh quay sang nhìn cô. “Sao lại quay lại đó?”
“Sau khi so sánh các phòng, ta có thể giả định phòng ngủ và phòng đứa bé để ngủ, phòng làm việc để làm việc. Nói cách khác, cặp đôi này thường dành cả ngày trong phòng khách.”
“Vậy chỗ nào có tài liệu quan trọng? Nhưng tôi không thấy chỗ nào để giấu cả.”
Dù vậy, anh vẫn đồng ý với lý lẽ của Eleven và trở lại phòng khách.
Bộ ghế sofa, bàn cà phê và bàn nhỏ được sắp xếp ngay ngắn hướng về TV. Eleven ngồi xuống ghế sofa bọc nệm. Vải ghế có dấu hiệu bị sờn ở chỗ ngồi lớn hơn cô, chứng tỏ có người đã ngồi ở đó rất lâu. Bàn bên phủ đầy lót cốc, báo chí, sách vở—những thứ để thư giãn. Dựa theo vị trí chiếc nôi, Theo đoán người chồng và vợ ngồi đối diện nhau trên hai đầu bộ ghế sofa, chiếc nôi ở giữa.
“…Vậy người chồng ngồi trên ghế sofa”, anh lẩm bẩm.
“Nếu họ có thói quen để những vật quan trọng trong tầm mắt”, Eleven nhận xét, “ta có thể suy ra họ cất tài liệu quan trọng ở đâu đó có thể nhìn thấy từ ghế sofa.”
Vừa nói, cô vừa bắt đầu lục soát ghế sofa, khu vực dưới chân, giá tạp chí gần đó và bàn nhỏ bên cạnh.
Theo cũng bắt đầu kiểm tra phòng khách, vừa kiểm tra vừa hình dung tầm nhìn từ sofa. Ngoài những bức ảnh trên bệ lò sưởi, họ sẽ giấu gì khác?
Anh kiểm tra kệ sách, giá đựng, cả chậu cây rồi đẩy chúng sang một bên và chạm vào tường. Dọc theo đường viền trang trí, tường được chia thành hai chất liệu khác nhau ở ngang hông, gỗ tối màu phía dưới. Các mối ghép được làm lộ ra như một điểm nhấn kéo dài đến chân tường. Nhưng ở một chỗ gần bệ lò sưởi, gỗ hơi lõm xuống.
Anh gõ nhẹ vào tường. Âm thanh chỗ lõm cao hơn các chỗ khác; rõ ràng bên trong có khoảng rỗng. Anh gõ thử các chỗ khác và cuối cùng tìm thấy một tấm ván xoay được, phát ra tiếng kunk.
Tấm ván xoay quanh một trục ở giữa theo chiều dọc. Một cánh cửa bí mật mở ra, bên trong hốc tường là một phong bì dày.
“Eleven, tôi tìm thấy rồi”, anh gọi.
Eleven đang kiểm tra dưới gầm bàn khi anh lôi phong bì ra. Nó không có vẻ nguy hiểm, nên anh trải toàn bộ nội dung ra bàn ăn.
Giấy khai sinh và khai tử của bé Basil, đã qua đời ba năm trước, một sổ sức khỏe mà cặp đôi dùng để ghi chép suốt thai kỳ, và vài băng video dán nhãn GROWING UP. Nhưng dày nhất là một quyển sổ in tiêu đề HỢP ĐỒNG HỖ TRỢ ĐẶC BIỆT JIKUNOKAGU.
“Hợp đồng gì mà dày thế này. ‘Jikunokagu’ là gì vậy?”, Theo tự hỏi thành tiếng.
Anh mở quyển sổ ra, thấy các trang chữ chi chít nhỏ xíu, rõ ràng không dành cho người ký đọc kỹ. Anh cố gắng đọc, nhưng mắt bắt đầu nhức và không hiểu nổi chữ nào.
“Xin phép.”, Eleven lấy quyển sổ từ tay anh, bắt đầu lật trang đều đặn với tốc độ cố định. Chẳng mấy chốc, cô đã đến trang ký tên và cuối hợp đồng.
“Đã hiểu nội dung. Tôi sẽ tóm tắt.”
“Hả?”, Anh há hốc mồm. “Ủa? Mới lật qua vậy mà?”
“Jikunokagu là một tổ chức cung cấp thiết bị y tế và dịch vụ điều trị ngoài phạm vi pháp luật cho người ký hợp đồng, và yêu cầu họ giữ bí mật cũng như chấp nhận mọi rủi ro phụ. Nhà Brouwer đã ký hợp đồng và đơn chấp thuận sáu tháng trước, mua một sản phẩm gọi là ‘cơ thể thay thế’ từ Jikunokagu. Việc sử dụng sản phẩm này tốn phí khổng lồ, mang rủi ro chết người và là hàng cấm, nhưng tất cả đều được khéo léo che giấu.”
“Nếu cô làm được vậy thì sao không dùng được điện thoại di động?”, Theo lẩm bẩm, choáng váng với bản tóm tắt mượt mà của cô.
“Đó là vấn đề của thiết bị di động, không phải của tôi.”, Eleven đẩy quyển sổ dày về phía Theo, mặt không cảm xúc.
Anh lôi tờ đơn chấp thuận ra nhìn.
“Người ký thay mặt Jikunokagu là Gino Camicia. Brecht chỉ là người bảo lãnh, nhưng người ký hợp đồng chính là Michelle? Và thứ họ mua là… tử cung?”
“Điều đó phù hợp với vị trí vết thương trên thi thể”, Eleven nhận xét.
“Khoan, khoan.”, Theo cau mày nhìn tờ giấy.
“Điều đó có khả thi không? Hiệu suất sẽ giảm khi lõi càng nhỏ, đúng không? Vậy mà tử cung… Có nghĩa là đứa trẻ không phải con nuôi? Cô ấy thực sự đã sinh nó ra?”
“Có thể Amalgam đã bắt chước lớp niêm mạc tử cung và hòa vào trứng đã thụ tinh. Trong trường hợp đó, nó có thể tồn tại trong cơ thể mà không cần phẫu thuật bụng, và điều đó giải thích vì sao lõi lại ở trong cơ thể người mẹ.”
“Làm sao mà—? Thôi, đừng giải thích nữa.”, Theo nhanh chóng ngăn Eleven trước khi cô có thể nói tiếp. Cô ngậm miệng rồi lại mở ra.
“Nói cách khác, thứ cô ấy mua không phải là một tử cung, mà là một ‘cái sinh’ nhất định”, cô nói.
“Không có hồ sơ nào cho thấy cô ấy từng ở cơ sở y tế”, Theo nhận xét. “Vậy việc này khác gì một ca sinh thường?”
“Tôi cho rằng nó sẽ giống như việc đẻ trứng. Một Amalgam thì không cần nhau thai, và sẽ không có vấn đề gì khi nó rời khỏi cơ thể ngay sau khi được cấy ghép. Có lẽ nó sẽ được ‘sinh ra’ ngay sau khi cô ta nhận ra mình mang thai.”
Đầu anh bắt đầu đau nhức, anh áp tay lên trán, tựa vào bàn rồi thở dài.
“Hiểu rồi. Thật ra thì tôi không hiểu lắm, nhưng tôi hiểu là Amalgam có thể biến đổi thành thứ mà nó đã săn mồi. Lần này chúng ta đã có dữ liệu di truyền, nên biết chắc nó chỉ bắt chước đứa con sinh học của họ chứ không phải bản sao hoàn chỉnh.”
“Vì nó đã có bản thiết kế cơ thể con người, tôi cho rằng nó có thể bắt chước cả một đứa trẻ sơ sinh.”
“Hmm? Vậy thì nó lớn lên kiểu gì?”
Đứa con nuôi của nhà Brouwer được cho là đã được khoảng ba tháng tuổi. Sau một thoáng im lặng, Theo ngẩng mặt lên, trong khi Eleven nhìn những bức ảnh trên kệ lò sưởi. Những bức ảnh của hai đứa trẻ khác nhau.
“Tôi cho rằng nó đã tham chiếu hồ sơ tăng trưởng của Basil Brouwer và bắt chước hành vi của một đứa bé ba tháng tuổi”, cô nói.
“Nhưng nó hoặc không thể lấy mẫu phù hợp để mô phỏng sự phát triển xa hơn, hoặc…”
“Cặp đôi đó không mong nó lớn thêm nữa.”
Theo liếc nhìn những vật chứng trên bàn và không kìm được một tiếng thở dài. Chỉ có cặp vợ chồng mới biết câu trả lời. Toàn bộ trò lừa đảo nhận con nuôi này bắt đầu vì họ đã ký hợp đồng đó. Có lẽ họ nhận ra mình không thể trả phí sử dụng sau khi thấy hóa đơn, nên Brecht mới nghĩ đến việc lợi dụng kẻ lừa đảo đã từng lừa em gái hắn. Họ đã khao khát có thêm một đứa trẻ đến mức sẵn sàng làm mọi chuyện, mà không biết sẽ bị giết chỉ sau sáu tháng.
“Có điều khoản nào trong hợp đồng khiến Amalgam trở nên hung hăng không?”, Theo hỏi. “Kiểu như từ khóa của Roremclad?”
“Không có gì được ghi rõ, nhưng tôi tự hỏi liệu việc vi phạm điều khoản cấm có phải là điều kiện kích hoạt.”,
Eleven mở cuốn sổ nhỏ và chỉ vào mục liên quan.
“Trong hợp đồng chỉ ghi, ‘Trong trường hợp người dùng vi phạm điều khoản cấm, hàng hóa sẽ lập tức bị thu hồi và dịch vụ chấm dứt.’ Có bốn điều cấm: hỏi về hợp đồng, tiết lộ thông tin hợp đồng cho bên thứ ba, xử lý hàng hóa không được phép, và không thanh toán trong sáu tháng trở lên. Nhưng vấn đề nằm ở ‘hỏi về hợp đồng’. Nó quá trừu tượng và rộng.”
“Nếu cặp đôi đó xin gia hạn thời hạn thanh toán và hành động này bị coi là vi phạm, thì hàng sẽ lập tức bị thu hồi. Còn phương thức thu hồi… Nếu Amalgam bỏ trốn và giết người dùng để giữ họ không thể tiết lộ… Lệnh cấm này có thể áp dụng cho bất cứ hành động nào. Nguy hiểm thật.”, Anh gom giấy tờ lại, cho vào phong bì nặng trĩu và đứng dậy.
“Giờ chỉ còn truy dấu Amalgam nữa thôi.”
“Vâng.”, Eleven gật đầu. “Chúng ta sẽ giả định nó đã thoát qua cửa sổ phòng tắm và điều tra.”
Theo rời hiện trường và vòng ra sân sau, chân anh giẫm lên bãi cỏ được cắt tỉa gọn gàng.
“Khả năng Amalgam bắt chước thứ khác để trốn thì sao?”, anh hỏi Eleven.
“Nó đã biến hình nhiều lần, hàng mẫu, đứa bé, rồi biến thể để giết cặp đôi. Dựa trên công suất lõi, tôi nghi nó đã chạm giới hạn. Nó có lẽ đã chạy trốn trong hình dạng cuối cùng.”
“Hmm. Vậy giới hạn đến sớm hơn khi lõi nhỏ hơn.”
“Đúng vậy. Liên quan đến khả năng tải quy trình, một Amalgam lõi nhỏ thì có rất ít thứ có thể làm được bằng sức mạnh vật lý.”
“Cảm ơn đã nói dễ hiểu hơn.”
Theo băng qua sân. Cửa sổ nhô ra bên ngoài vẫn mở. Eleven cúi xuống kiểm tra kỹ.
“Nó đã chui qua cửa sổ rồi rơi xuống thẳng đây”, cô quan sát.
“Cỏ bị ép phẳng trong một bán kính nhất định, và có vết bám trên mặt đất. Nó đã bò đi và… di chuyển theo một đường thẳng.”
Cô bắt đầu đi, mở cổng sau, ra con đường núi rồi tiếp tục bước vững vàng, mắt dán xuống đất.
“Cô thực sự lần theo dấu vết một đứa bé bằng cách này à?”, Theo nghi ngờ. “Còn chẳng có dấu chân nào.”
“Vì nó bò, nên để lại nhiều dấu như cành cây gãy, vết đất bị bới.”
Thỉnh thoảng, Eleven cúi rạp xuống, gần như áp mặt sát đất mà lần dấu vết. Trông cô hệt như một con chó săn, đúng với cái tên Hound.
Nhưng cuối cùng, họ gặp một đoạn địa hình dốc đứng mà ngay cả người lớn cũng khó vượt qua an toàn. Bậc thang đột ngột này dường như không phải địa hình tự nhiên mà là kết quả sạt lở đất sau một trận mưa lớn. Eleven nhảy xuống nhẹ nhàng, chăm chú nhìn mặt đất rồi ngước lên nhìn Theo.
“Có vẻ nó rơi xuống và bị thương ở đây”, cô báo cáo.
“Mặt đất lún xuống, vết bò bị lệch.”
“Chỉ ngã thôi à? Chắc nó tái sinh được chứ?”
“Có thể chỉ là ngã, nhưng dấu vết cho thấy bất thường lớn. Nó không tái sinh được.”
Lối mòn trên núi hoàn toàn không được bảo trì. Có những đoạn đất sụt, cây đổ chắn ngang, ngay cả người lớn cũng phải nỗ lực mới vượt qua được, càng không thể nào với cơ thể một đứa bé. Thế mà Amalgam vẫn bò thẳng tới khi dấu vết của nó dẫn ra khỏi núi.
Theo ngạc nhiên khi lối mòn bất ngờ mở ra trước mặt anh: một bãi biển nhỏ, đẹp đẽ, sóng vỗ nhẹ, những bãi đá rải rác, và một biển báo CẤM TẮM BIỂN. Anh quay lại nhìn ngọn núi phía sau. Ngôi nhà Brouwer đã khuất hẳn.
“Chắc nó không bơi ra biển đâu”, anh nói. “Từ nhà ra đây mất tầm nửa tiếng?”
“Với Amalgam này thì chắc còn lâu hơn.”
“Bò kiểu đứa bé thì đi nhanh được gì chứ.”
Eleven bước tới, để lại dấu chân trên cát cạnh rãnh nhỏ dẫn từ lối mòn ra biển. Rãnh hẹp dần rồi mất hút ngay mép nước.
Anh thấy một thứ giống búp bê nhựa bị nung méo, nằm phơi mình trong sóng. Cái đầu chỉ còn lại miệng và vài sợi tóc, thân hình lấm lem bùn máu. Một chân biến thành lưỡi liềm sắc, chân kia vẫn còn đi giày sơ sinh. Nó không hề cử động. Đó chính là xác Amalgam.
Eleven nhặt nó lên bằng hai tay. Những ngón tay trắng trẻo phủi lớp bẩn để lộ lõi đỏ đang phát sáng yếu ớt. Lõi rất nhỏ.
Theo ngần ngại nhìn.
“Cái đó… còn nguy hiểm không?”
“An toàn rồi”, Eleven trấn an.
“Nó đã vượt quá giới hạn hoạt động, không thể cử động nữa.”
“Ờ… vậy được rồi. Ta sẽ kiểm tra dấu răng và lấy mẫu máu. Phòng thí nghiệm sẽ xử lý tiếp. Dù nó không còn động đậy, vẫn quá sức cho cục điều tra.”
Anh tự động nhìn tay Eleven. Thân thể bé nhỏ của Amalgam vẫn còn phảng phất dáng hình đứa bé vài tháng tuổi, khiến Theo cảm thấy buồn bã.
“Tại sao nó lại liều mạng vượt núi? Amalgam không có cảm xúc mà, vậy cái gì đẩy nó đến mức này?”, anh hỏi.
“Tôi sẽ kiểm tra quy trình của nó. Xin đợi chút.”, Eleven đáp, đặt tay lên lõi Amalgam.
Một ánh sáng đỏ bốc lên, các hoa văn hình học chạy qua nó, nhưng nhanh chóng ngừng lại, chỉ hiện ra hai khối cầu nối bằng một đường thẳng với ký hiệu bên trong.
“Triển khai hoàn tất”, cô thông báo.
“Qua phân tích, rõ ràng khác với Amalgam thông thường có ba trụ tái sinh, tự cung cấp và thi hành lệnh, Amalgam này bị loại bỏ phần tái sinh. Các dòng ký tự ‘sản sinh’ và ‘nhiều’ được thêm vào, nhưng vì không có ý nghĩa rõ ràng nên khả năng phán đoán của nó kém, không phát hiện được giới hạn hoạt động.”
“Tức là một số chức năng bị cắt để làm lõi nhỏ hơn?”
“Đây chỉ là giả thuyết, nhưng có lẽ do thay đổi quy trình bằng kiến thức không đầy đủ nên lõi bị thu nhỏ trong quá trình sản xuất. Hoặc có thể đây là một thí nghiệm, như Roremclad, rồi người ta phát hiện có thể biến nó thành sản phẩm. Dù sao thì, có thực tế rằng họ có môi trường nghiên cứu lõi và bán lõi cho dân thường.”
“Vậy còn tệ hơn Roremclad sao? Có manh mối gì khác không?”
Eleven rời mắt khỏi lõi, nhìn Theo.
“Có một báo cáo liên quan. Amalgam này được chỉ thị trở về với một người cụ thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Nó đã dốc hết sức để tìm người đó.”
“Người?”, Anh cau mày. “Người thì đâu có tọa độ. Định vị kiểu gì?”
“Thông tin di truyền cá nhân được nhập vào. Chỉ cần một sợi tóc hay giọt máu. Nếu phòng thí nghiệm tách được, chúng ta có thể dùng để điều tra.”
“Vậy trước khi biết tên hay mặt mũi, ta có được ADN của họ.”, Theo thở dài, nhìn ra biển. Sóng vỗ nhẹ bờ cát.
“Nếu Amalgam đi thẳng từ nhà đến người đó thì chắc họ đã đi xa. Chúng ta vẫn chưa có đủ thông tin để lần ra vị trí.”
“Nhưng đây vẫn là thu hoạch tốt.”, Eleven bình tĩnh nói.
“Chúng ta sẽ tiếp tục điều tra hướng khác.”
“Ừ.”, Theo bắt đầu đi dọc bãi biển.
Họ lẽ ra có thể vòng lại ra đường chính. Eleven lặng lẽ bước trên cát, đi bên cạnh anh.
“May mà nó kiệt sức ở đây”, Theo tiếp. “Khu này hay ngập lụt, dân bản địa tránh xa. Gặp rắc rối to nếu ai khác tìm thấy nó trước ta.”
“Một người tự nguyện nhặt thứ trông thế này có lẽ còn là vấn đề khác.”
“Chắc chắn rồi”, Theo lẩm bẩm. “Vậy là Amalgam sẽ như thế này khi vượt quá giới hạn hoạt động.”
Lúc cuộc tấn công quy mô lớn xảy ra hồi mùa xuân, Eleven cũng đã bị đốt trụi trong lò thiêu cùng kẻ địch. Cô từng nói sẽ phớt lờ giới hạn để giúp anh. Bình thường Amalgam sẽ tránh vượt giới hạn, thế mà cô…
“Theo, anh đang ‘lo lắng’?”
Anh giật mình ngước lên. Đôi mắt xám đang nhìn anh đầy nghiêm túc.
“Chúng ta đã thu hồi Amalgam trốn thoát và có thêm manh mối cho cả vụ lừa đảo lẫn vụ giết người.”, Eleven nói. “Cuộc điều tra tiến triển tốt. ‘Lo lắng’ không phù hợp.”
“Ờ. Ừ, điều tra thì đang tiến triển. Nhưng…”,
Anh lúng túng khi nhận ra tay phải đang lơ lửng, rồi đút vội vào túi áo.
“Tôi chỉ nghĩ, liệu đó có phải điều đã xảy ra với cô không. Trong lò thiêu.”
“Cơ thể vật lý của tôi cũng mất, nhưng tôi sẽ không phân rã kiểu này.”, Cô thản nhiên đáp.
“Chỉ là tôi nghĩ vậy thôi. Giả thuyết mà.”
Như anh dự đoán, anh chẳng thể diễn đạt trọn vẹn. Anh cười gượng. Dù trực giác của cô rất nhạy, nhưng nhận thức của cô vẫn khác xa con người. Anh lắng nghe nhịp chân của họ lẫn vào tiếng sóng.
“Chúng tôi, Hound, cũng có ‘kết thúc’”, cô nói.
“Nhưng đó là giai đoạn cuối cùng. Tôi sẽ được xử lý ở cơ sở chuyên biệt. Khó có khả năng tôi lại kết thúc thế này trước mặt anh.”
“Kể cả khi cô chỉ còn lõi?”
“Giống như anh đã đào cái đó lên khỏi cát, tôi sẽ trở lại với hình dạng mà anh mong muốn.”
Những lời đó khiến anh ấm lòng, và ánh nhìn anh dịu lại trong khoảnh khắc. Nhưng rồi anh nhanh chóng đổi ý, véo má cô.
“Nhưng tốt nhất đừng để mất xác ngay từ đầu nhé?”, anh nói. “Phải trở về nguyên vẹn. Nên đừng làm vậy nữa.”
“Rõ. Tôi sẽ cập nhật hướng dẫn. ‘Lo lắng’ đã xong chứ?”, Eleven ngước nhìn anh qua mái tóc lòa xòa. Đôi mắt bình thản chẳng hề bất ngờ trước lời anh.
Anh thở dài, xoa tóc cô.
“Ở bên cô thì tôi không có thời gian để lo lắng đâu.”
“Xét về thống kê, một thanh tra có ít thời gian rảnh hơn công dân thường.”
“Cô—? Thôi, bỏ đi. Thật sự cô đúng là…”
Cô vốn dĩ là vũ khí hiệu suất cao, thế mà đôi khi lại ngờ nghệch đến thế. Theo cười mỉm, sải bước nhanh hơn trên bãi cát.
*****
Khi Emma bước vào nhà xác, cô chào một viên thanh tra đang trên đường ra ngoài rồi đi thẳng về phía sau. Rocky đang đứng nhìn chằm chằm vào hai thi thể, gương mặt nghiêm nghị, nhưng khóe miệng anh hơi nhếch lên thành một nụ cười khi trông thấy Emma.
“Ồ, ai đây nếu không phải là cô nàng tomboy của chúng ta”, anh nói. “Cuộc điều tra sao rồi?”
“Bí rồi.” Cô thở dài.
“Tôi đang chờ mấy người kia quay lại. Nhưng ai mà biết họ bao giờ mới về, nên tôi tính ra đây xem lại thi thể. Anh khám nghiệm xong rồi phải không? Có vấn đề gì không?”
Rocky lắc đầu rồi kéo tấm khăn phủ xuống để lộ gương mặt vợ chồng nhà Brouwer.
“Dựa vào vị trí thi thể tại hiện trường, tôi cho rằng người chồng bị giết trước, lúc đang bảo vệ vợ khỏi đứa bé trong nôi. Đứa bé cắn vào mắt cá chân người vợ trước khi bà ấy kịp chạy, khiến bà ngã. Có lẽ đập đầu vào bàn cà phê. Sau đó đứa bé xé toạc bụng bà ấy khi bà vẫn còn sống, cào nát cổ họng rồi mới giết bà ấy.”
“…Thật kinh khủng. Thật sự.” Giọng Emma khàn lại.
“Mmm.” Rocky gật đầu.
“Dù nó thực sự là thứ gì đi nữa, họ chắc chẳng bao giờ ngờ sẽ bị giết bởi chính đứa bé họ đã nuôi nấng.” Anh thở dài, kéo tấm khăn phủ lại lên người hai thi thể.
“Họ hoàn toàn bình thường. Các cơ quan nội tạng còn lại đều khỏe mạnh, tôi cũng đã kiểm tra máu và dịch dạ dày của họ. Vậy tôi đố cô nhé, vì cô là pháp sư mà. Có đoán ra thành phần gì không?”
Anh giơ một tờ giấy mới in ra.
“Những thành phần tôi tìm thấy trong cơ thể người vợ. Gừng, mizuohaka, hạt dành dành, cỏ amadake, rễ mẫu đơn, mật gấu lười, gan lừa sắt và apatite. Cô sẽ uống hết đống này cùng lúc để làm gì?”
“Hmm…” Emma cau mày. “Gấu lười chắc có tác dụng an thần. Còn lại thì tôi chịu.”
“Gì cơ?” Rocky nhướng mày. “Cô không học dược liệu pháp thuật à?”
Cô nhún vai.
“Không phải chuyên ngành của tôi. Vậy đó là thuốc gì?”
“Cái này gọi là thuốc arkichyl. Dùng để ổn định tâm trạng hoặc khi cảm thấy mệt mỏi không rõ nguyên nhân. Cũng hay được kê cho các chứng bệnh phụ khoa. Nhưng việc sử dụng và sở hữu mật gấu lười với gan lừa sắt thì bị hạn chế nghiêm ngặt. Ngay cả thầy thuốc cũng cần giấy phép đặc biệt để kê.”
Emma vội ghi lại vào sổ tay.
“Người có giấy phép thì dễ lần ra thôi. Cảm ơn anh, Rocky. Cái này có thể hữu ích đấy.”
“Mmm. Cô đã liên lạc với người nhà chưa?” anh hỏi.
“Chưa. Cha mẹ của họ đều mất rồi, còn Brecht thì nghe nói có cô em gái tên Anna nhưng tôi gọi mãi không được. Tôi đang tính ghé qua nhà cô ấy.”
“Cô cứ đi đi. Nhà xác lạnh quá, không chỗ cho hai người này an nghỉ lâu đâu.”
Rocky khẽ đặt tay lên tấm khăn phủ các thi thể. Đó là một cử chỉ an ủi đầy nhẹ nhàng.