Vol 2 – Chương 3: Kế hoạch tiến triển, gợn sóng trắng dâng trào
Amalgam Hound Vol 2
Tác giả: Komai Mitori
Minh họa: Ozaki Domino
Chương 3: Kế hoạch tiến triển, gợn sóng trắng dâng trào
Tour du thuyền: Ngày đầu tiên
Zabahlio, thành phố cảng lớn nhất của Adastrah. Đây là nơi đặt một căn cứ hải quân lớn, thành phố này đã từng hứng chịu nhiều trận không kích, nhưng sau mỗi lần bị tàn phá, nó lại hồi sinh, những con phố lịch sử vẫn được giữ nguyên vẹn. Dù là một thành phố quân sự kiên cường, Zabahlio cũng là một điểm du lịch đẹp như tranh vẽ, điểm hành hương của biết bao người, một thành phố trên mặt nước, rộng mở chào đón tất cả mọi người như nhau: quân nhân, thủy thủ hay du khách.
Một con tàu chở khách trông như lâu đài tuyết đang tiến gần bến cảng. Đây là con tàu du lịch mà bất cứ ai cũng tự hào khi được lên, do công ty du lịch tàu biển lớn nhất của quốc gia quân sự phương Bắc vận hành. Con tàu trắng khổng lồ ấy, mang tên Havmonet, dũng mãnh cập bến. Người dân tay cầm máy ảnh túa ra, chớp lấy cơ hội hiếm hoi để chụp lại hình ảnh con tàu du lịch đến từ một quốc gia khác.
Chuyến du thuyền kéo dài một tuần, ghé qua các thành phố cảng của ba quốc gia khác nhau, thu hút sự chú ý to lớn như một biểu tượng của hòa bình và hữu nghị. Giới truyền thông cũng tập trung đông đảo để ghi lại hình ảnh con tàu và hành khách, biến bến cảng thành một nơi rộn ràng tiếng nói cười.
Những hành khách vừa xuống Zabahlio tấm tắc khen ngợi thành phố xa lạ này, trong khi người dân địa phương cũng vui vẻ chào đón du khách từ phương xa. Hình ảnh những hành khách đứng trên boong tàu và bọn trẻ con ở bến cảng cùng vẫy tay chào nhau khiến ai nhìn cũng mỉm cười, máy ảnh không ngừng bấm lia lịa. Tất cả những con người đang tận hưởng khoảng thời gian ngắn ngủi tại bến cảng này đã mang lại hy vọng cho một thành phố đang hối hả tái thiết.
Giữa cảnh huyên náo ấy, những người tham gia tour từ Adastrah đang được hướng dẫn lên tàu.
“Vậy là chúng ta sắp bước lên con tàu đó sao”, Theo thì thầm với Eleven bên cạnh, ánh mắt anh quét khắp xung quanh.
“Vâng, đúng vậy”, cô trả lời.
Trong hàng người chờ lên tàu, có không ít người mang quân hàm cao hơn Theo vài bậc, và nhiều hành khách còn dẫn theo thư ký. Dù có những cặp đôi đi để hưởng thụ hay để lưu giữ kỷ niệm sau khi nghỉ hưu, tất cả không ai khác ngoài tầng lớp thượng lưu, với dáng vẻ tao nhã và phong thái lịch lãm.
Thấy được sự sang trọng thực sự của những hành khách ấy, Theo bắt đầu kéo cổ áo quân phục, cảm giác như không khí xung quanh trở nên loãng, chẳng còn thở nổi.
“Chỉ nhìn bề ngoài thì không thể đoán ai là khách của Jikunokagu được”, anh lầm bầm. “Tôi cũng chưa thấy Camicia đâu.”
“Đúng như giả định ban đầu, họ sẽ nhắm đến buổi tiệc chào đón diễn ra sau khi tàu khởi hành”, Eleven đáp.
“Việc ưu tiên là gặp trung tướng trước để so lại thông tin. May mà chúng ta đã biết mặt ông ấy, và khi con tàu rời bến thì cũng như một căn phòng kín, chẳng còn chỗ nào để chạy.”
Tuy nhiên, điều đó cũng áp dụng cho Theo và nhóm của anh. Anh thở dài một hơi thật dài.
“Không ngờ mình lại lên tàu với tư cách khách mời của trung tướng. Nếu làm hỏng chuyện này thì đời tôi coi như xong.”
“Nếu lo lắng quá mức, hiệu suất sẽ bị ảnh hưởng. Chỉ cần anh cư xử như bình thường thì sẽ không có vấn đề gì”, Eleven nói với giọng điệu không chút cảm xúc, khiến Theo lúng túng cúi đầu.
Chiếc váy cô đang mặc, với những chi tiết trang trí tinh tế và phần váy xòe, tôn lên vẻ dịu dàng như một tiểu thư trẻ. Mái tóc bạc dài được buộc lên đầy phong cách, gương mặt được trang điểm nhẹ nhàng, hoàn toàn toát lên vẻ đẹp của một thiếu nữ xinh đẹp. Tay áo dài cùng đôi găng có thể trông hơi lạc lõng ở bến cảng mùa hè, nhưng trước vẻ đẹp lạnh lùng ấy, ai cũng bỏ qua điều nhỏ nhặt đó.
Bất cứ ai đi ngang cũng ngoái đầu lại nhìn dáng vẻ phi thực của cô. Những người đang đợi lên tàu thì thầm to nhỏ, ánh mắt không ngừng liếc trộm cô. Chắc chắn Gino Camicia cũng sẽ chú ý đến vẻ đẹp khác thường ấy và tò mò về bí mật cũng như tâm lý bất ổn của cô. Theo tin chắc là vậy, nhất là khi cô lại mang danh cháu gái Trung tướng Cormolone. Cái tên Alouette cũng rất hợp với cô, miễn là không ai biết đó vốn là tên con chó cưng của trung tướng.
“Đang thu hút sự chú ý, đúng như kế hoạch”, Theo lẩm bẩm. “Chỉ mong ta câu được con cá lớn.”
“Vậy vẻ ngoài mặc định của tôi cũng đủ để ‘câu cá’ sao?”, Eleven hỏi khẽ.
“Ờ… tất nhiên rồi.”, Tim anh khẽ lỡ một nhịp, giọng nói bất giác ngập ngừng. “Cô rất… thanh tao.”
Anh không thể không chú ý quá mức đến cô khi nghĩ rằng mình sẽ phải đóng vai bạn trai. Thế nhưng, cô gái bên cạnh chỉ lặng lẽ nhìn con tàu.
“Thiết kế Hound vốn dựa trên mong muốn tạo ra ‘nỗi sợ hãi’ cho bất cứ ai nhìn thấy”, cô nói thản nhiên.
Cô vẫn vậy, và Theo thấy bờ vai mình bất giác trút được căng thẳng.
“Cô ám người ta bằng cách làm những chuyện điên rồ trong hình hài như thế đấy”, anh lẩm bẩm.
Làm theo hướng dẫn của thủy thủ đoàn, anh xách hành lý của cô cùng hành lý của mình.
“Theo, tôi có thể tự mang”, cô ngạc nhiên.
“Thế này mới ra dáng ‘bạn trai’ hơn. Đi thôi.”, Anh bước lên trước, cô lặng lẽ đi theo ngay sau, ngước nhìn gương mặt anh.
“Gì vậy?”
“Anh nắm khá rõ khái niệm ‘hộ tống’ hơn tôi nghĩ, nên tôi đang cân nhắc điều chỉnh kế hoạch hỗ trợ.”
“Cô đang trêu tôi à?”
“Không, tôi thấy anh rất tuyệt!”, cô reo lên đầy sáng rỡ.
Trong lúc anh còn ngẩn người vì giọng điệu bỗng nhiên thay đổi, cô đã tung tăng chạy lên phía trước, chân váy xòe nhẹ, nụ cười của Alouette rạng rỡ như đóa hoa vừa nở khi cô xoay một vòng trên đôi giày xinh xắn.
“Mau lên nào, Theo! Em đã đợi mùa hè này lâu lắm rồi!”
Tiếng gọi trong trẻo của cô vang lên khiến những hành khách khác cũng nhìn theo với ánh mắt đầy ấm áp, ai nấy đều mỉm cười khi thấy đôi má cô ửng hồng đầy háo hức trước đêm du thuyền bắt đầu.
Theo vội vã bước theo cô về phía cầu tàu. “Ôi trời, tiêu rồi…”
Gương mặt xinh đẹp, vốn dĩ vô cảm, giờ lại tỏa sáng với nụ cười long lanh, thôi thúc anh bước nhanh hơn. Anh hiểu rõ quái vật nào ẩn sau làn da trắng mịn, tựa như tan ra dưới ánh mặt trời ấy, vậy mà…
Tiêu thật rồi…
Chính vì biết cô là một vũ khí chiến thuật, nên gương mặt ngây thơ đó lại càng bóp nghẹt trái tim anh hơn.
*****
Tobias đã ghi nhớ sơ đồ con tàu chở khách trong đầu sau khi được tham quan như một thành viên tạm thời của thủy thủ đoàn.
Chuyến du ngoạn chỉ kéo dài vài ngày, các phòng hành khách được chia thành bốn hạng khác nhau, nhưng con tàu có rất nhiều tiện nghi, sảnh chính tổ chức sự kiện, các rạp hát lớn nhỏ, rạp chiếu phim, nhà nguyện, studio chụp ảnh. Hành khách cũng có thể lựa chọn đủ loại hoạt động trong phòng giải trí, thư viện, tiệm làm tóc, spa, vườn trên sân thượng, bốn hồ bơi khác nhau và cả phòng tập gym. Ngoài ra còn có một loạt các chương trình thực hành dành cho hành khách và gia đình họ, cùng dịch vụ trông trẻ. Khu mua sắm miễn thuế có đủ các cửa hàng, quán bar, nhà hàng và quán cà phê, biến con tàu này trở thành thứ vượt xa phạm vi của một khách sạn.
Mình chưa bao giờ tưởng tượng ra con tàu lại to đến vậy.
Tobias kinh ngạc trước quy mô của nơi này, rồi ánh mắt anh dừng lại ở tấm biển ghi SALON. Đây là một căn phòng nằm phía đuôi tàu, trên mỗi boong sáu và bảy, một không gian đặc biệt chỉ dành cho những hành khách đặt phòng hạng sang mới được đặt chỗ.
“Xin lỗi, ở salon có sự kiện nào sắp diễn ra không?”, anh hỏi một thành viên thủy thủ đoàn đi ngang qua.
“Khi có sự kiện, họ chọn nhân viên phục vụ thế nào?”
Thành viên đó nghiêng đầu.
“Những sự kiện tôi biết đều do công ty du ngoạn tổ chức. Nhưng tôi được yêu cầu dọn người ra khỏi salon trên boong sáu, nên tốt nhất anh đừng lại gần đó. Tôi nghe nói họ mang theo nhân viên riêng, nghĩa là dù sự kiện gì thì cũng không phải việc của chúng ta. Vậy anh cứ yên tâm.”
“Vậy à? Cảm ơn nhé”, Tobias đáp, rồi rời đi để kiểm tra lịch trực.
Có vẻ như anh được phân công phụ trách các phòng hành khách và không gian tiệc tùng là chủ yếu. Anh đi thẳng tới salon ở boong sáu, mỉm cười chào hỏi những người anh lướt qua.
Đứng ngoài hành lang quan sát, anh thấy vài người mặc áo thun đang khiêng đồ vào trong. Có vẻ như đang diễn ra một cuộc họp nào đó. Anh kiểm tra bản đồ con tàu và phát hiện ngay bên dưới salon là kho hàng, đoán rằng đồ đạc đang được chuyển lên từ đó.
“Này, anh đang làm gì đấy?”, Một giọng nói vang lên đột ngột sau lưng, Tobias quay lại cẩn trọng. Một phụ nữ mặc đồng phục bảo vệ đang nhìn anh chằm chằm, trên áo cô thêu chữ TARJA.
“Salon đó cấm vào đấy. Họ mà thấy anh thì rắc rối to.”
“Xin lỗi. Tôi mới lên tàu”, anh giải thích. “Tôi muốn tìm hiểu sơ qua nơi này. Vậy khu này bị cấm à?”
“Chỉ trong chuyến này thôi”, cô đáp. “Một hành khách đã thuê trọn phòng đó cho cả chuyến du ngoạn, và họ yêu cầu chỉ nhân viên riêng mới được vào. Tôi hiểu anh tò mò, nhưng cuộc họp sắp bắt đầu rồi. Ta đi thôi.”
Tobias ngoan ngoãn đi cùng Tarja về phòng nhân viên. Họ được lên lịch họp cuối cùng khi tàu vẫn còn neo ở cảng, và toàn bộ nhân viên được yêu cầu tham dự.
“Thường xuyên có hành khách như vậy không?”, anh hỏi.
“Ờ.”, Cô nhún vai. “Lần đầu tiên tôi thấy có người thuê trọn salon cả chuyến, lại mang nhiều đồ đạc và người như vậy.”
“Đúng là hơi lạ thật.”
“Anh chắc cũng thấy trên bản đồ rồi đấy, phòng đó nằm ngay trên kho hàng, lại không có phòng hành khách liền kề. Nên có mở nhạc, khiêu vũ ồn ào cũng chẳng sao, nhiều hành khách thích điều đó. Nhưng thường chỉ thuê vài tiếng một ngày thôi. Hành khách này đúng là lạ”, Tarja cau mày nói.
“Salon ở boong bảy thì sao? Vẫn hoạt động bình thường chứ?”, Tobias hỏi lơ đãng.
“Nó được thuê một ngày cho buổi họp lớp, nên vẫn bình thường.”
“Vậy à. Không biết hành khách thuê salon boong sáu tính làm gì.”
“Tôi chỉ biết muốn vào đó thì phải có thiệp mời.”
“Thiệp mời?”, Anh nhướng mày. “Cô từng thấy chưa?”
“Tôi thoáng thấy khi kiểm tra kho hàng. Chỉ ai có thiệp mời mới được vào.”
Tobias cảm ơn cô rồi rời đi với lý do đi vệ sinh. Sau khi chắc chắn không có ai trong hành lang dành cho nhân viên, anh bước vào nhà vệ sinh, khóa cửa lại và bước tới bức tường phía trong. Cuối cùng, anh gõ nhẹ thiết bị không dây gắn trong cổ áo.
“Tobias đây. Tình hình thế nào?”
“Theo đây. Phòng hành khách vẫn bình thường. Không có gì bất ngờ. Emma sẽ hội quân với chúng ta trên tàu khu trục Calwell. Họ đi kèm Havmonet dưới vỏ bọc khảo sát biển.”
“Rõ. Về con tàu này, một trong các salon được thuê trọn chuyến. Họ tổ chức họp kín, chỉ có khách mời mới được vào. Có thể là Jikunokagu.”
“Anh moi được gì không?”
“Không. Bị cấm mọi người ngoài ra vào. Phòng này lại nằm ngay trên kho hàng, nên chắc không ngại ồn. Tôi sẽ tìm cơ hội kiểm tra từ kho hàng.”
“Bọn tôi sẽ lo vụ thiệp mời. Anh đừng để bị nghi ngờ.”
Sau cuộc trao đổi chớp nhoáng, Tobias rời khỏi nhà vệ sinh, đưa mắt nhìn quanh. Không có dấu hiệu ai đang rình mò. Cuối cùng, anh tiến về phía phòng họp của thủy thủ đoàn. Bởi vì họ không biết Jikunokagu có cắm rễ sâu đến mức nào, nên Tobias chẳng thể không cẩn trọng.
*****
Emma vén chiếc áo choàng của Hội Pháp Sư lên và ngước nhìn tòa chung cư cũ kỹ. Bình thường cô thường điều tra cùng một đồng đội hoặc một nhóm, nên việc tự mình bước vào đây khiến cô hơi lo lắng.
Ngay lúc này, Theo và những người khác đang bắt đầu nhiệm vụ nằm vùng trên con tàu. Và lẽ ra Emma cũng nên ở cùng họ. Dù sao thì, cô cũng không thể nói chắc rằng việc mình làm ở đây thực sự thiết yếu cho cuộc điều tra. Nhưng với tư cách là một pháp sư, cô đủ hiểu bản thân để biết rằng nếu đã phát hiện ra một manh mối phép thuật tiềm tàng, cô sẽ hối hận cả đời nếu bỏ qua nó.
Emma, chỉ có cô mới có thể làm rõ chuyện này thôi.
Cô tự động viên bản thân rồi bắt đầu leo lên những bậc cầu thang của tòa chung cư. Từ đâu đó trong tòa nhà, vang lên những tiếng cãi vã và nhạc xập xình chói tai. Những bức tường của cả tòa nhà đều mỏng manh, và công trình thì xây dựng cẩu thả.

Cô dừng lại trước cánh cửa mình cần ghé thăm và nhanh chóng vẽ một vòng tròn ma thuật dò tìm. Không có bẫy hay bất kỳ loại ma thuật nào xung quanh. Khi đã chắc chắn, cô bấm chuông.
“Vâng?”, — một giọng yếu ớt vọng ra. Khuôn mặt ló ra qua khe cửa là của một người phụ nữ căng thẳng vì sợ hãi, quầng thâm sâu dưới mắt và gầy gò đến mức trông gần như chẳng còn giống với bức ảnh của cô ta.
“Anna Brouwer, đúng không? Cục Điều tra Hình sự. Canary”, Emma nói, giơ thẻ điều tra viên ra trước mặt người phụ nữ.
Anna nhìn cô với ánh mắt nghi hoặc.
Anna Brouwer. Sau khi chứng nghiện rượu của cô ta dẫn đến vô số rắc rối lớn nhỏ, cô ta đã đột ngột biến mất khỏi bản đồ cách đây sáu tháng. Nhưng một người phụ thuộc vào rượu đến mức va chạm với cảnh sát như cơm bữa thì chắc chắn không thể tự dưng bỏ được rồi biến mất sống hạnh phúc đến cuối đời. Giả thuyết của Emma hóa ra chính xác, và đúng như cô dự đoán, Anna vẫn thường xuyên dính líu đến cảnh sát vì uống rượu. Đó là cách Emma lần ra tung tích cô ta. Theo hồ sơ cảnh sát, Anna vừa mới qua đêm trong phòng giam dành cho người say rượu — nơi cô ta là khách quen.
“Cô muốn gì, điều tra viên?”, Anna hỏi với giọng bực bội qua khe cửa.
“Tôi muốn nói chuyện với cô về anh trai cô, Brecht, và vợ anh ấy, Michelle”, Emma nói, và mặt Anna lập tức cứng đờ.
Anna lập tức chồm tay ra định đóng cửa lại, nhưng trước khi cô ta kịp làm, Emma đã kịp đưa chân chặn khe cửa.
“Tôi… tôi không biết gì hết”, Anna phản đối. “Không gì cả!”
“Anna, tôi chỉ muốn nói chuyện với cô thôi”, Emma bình tĩnh nói. “Gia đình Brouwer có quyền biết sự thật về chuyện xảy ra ba năm trước. Họ xứng đáng mà, đúng không, Anna?”
“Vậy thì đưa Brecht tới đây!”
“Anh ấy chết rồi, Anna!”, Emma quát giận dữ. “Cả Brecht và Michelle đều bị sát hại!”
Anna sững người tại chỗ. Đôi mắt cô ta mở to đến mức như sắp rớt ra khỏi hốc mắt, cuối cùng cũng chịu nhìn thẳng vào Emma.
“Bị giết…? Cả hai? Tôi…”
Anna há miệng ra rồi lại khép lại, rồi cuối cùng gương mặt cô ta sụp xuống. Cô ta đưa tay ôm trán, bật khóc, lảo đảo lùi vào trong căn hộ. Emma bước theo sau.
Căn phòng u ám và chỉ được thắp sáng lờ mờ bởi chiếc đèn bàn, rèm cửa dày kéo kín mít. Toàn bộ không gian mang gam màu tối, tấm gương cũng bị phủ kín bằng một tấm vải. Trông như thể Anna đã chối bỏ mọi thứ liên quan đến ánh sáng. Căn bếp nhỏ chất đầy rác, vô số lon và chai rượu rỗng chất thành núi. Chiếc ghế sofa thì gần như bị chôn vùi dưới đống quần áo.
Anna nấc lên trong gian phòng phủ đầy bóng tối. Cô ta ngồi sụp xuống sofa, úp mặt vào tay, khuỷu tay chống lên đầu gối, khóc nức nở.
“Anna”, Emma dịu giọng. “Làm ơn kể tôi nghe về anh trai và chị dâu cô. Lần cuối cùng cô gặp họ là khi nào?”
Anna hít một hơi run rẩy.
“Khoảng sáu tháng trước. Tôi… tôi đầu tư vào một thứ vớ vẩn, và nó thành thảm họa. Khi tôi nói với họ là tôi sắp chuyển chỗ, họ đã đến thăm tôi. Họ lo lắng. Chúng tôi ăn tối cùng nhau lần đầu tiên sau bao lâu. Lúc đó tôi còn sống ở chỗ gần chợ, cũng tiện, nhưng tôi không trả nổi tiền thuê nữa. Tôi đã đưa Brecht cái danh thiếp của gã lôi tôi vào vụ đầu tư thảm họa đó để cảnh báo anh ấy. Kiểu, đừng có dại như tôi. Anh ấy thông minh, không như tôi. Tôi nghĩ chỉ cần tôi nói thì anh ấy sẽ ổn thôi.”
“Thế còn Basil?”
Anna giật mình thấy rõ, Emma nghe tiếng cô ta cắn móng tay.
“…Ổn”, Anna bắt đầu. “Tôi cũng hơi bất ngờ khi họ lại đặt tên đứa con nuôi giống hệt đứa bé đã chết. Nhưng tôi biết họ đã vất vả thế nào với chuyện điều trị vô sinh, nên… tôi chỉ thấy mừng khi thấy Michelle còn cười được.”
“Và sau đó cô không liên lạc gì nữa?”
“Không.”, Anna lắc đầu chậm rãi. “Tôi còn chẳng có tiền gọi điện hay mua tem gửi thư…”
“Không đúng đâu, Anna. Tôi muốn biết chuyện thật sự đã xảy ra.”, Emma quỳ xuống trước mặt Anna và nắm lấy bàn tay trái của cô ta. Máu rỉ ra từ những móng tay đã bị cắn đến sát gốc.
Anna nhìn Emma với ánh mắt hoảng loạn từ sau mái tóc lòa xòa che mặt.
“Nào, Anna”, Emma giục. “Cô đang trốn ai? Anh trai cô? Michelle? Hay cô sợ Hội Pháp Sư sẽ mò đến hỏi tội?”
Anna cố giằng tay ra, mắt mở to, mồ hôi lạnh vã ra. Emma vẫn nắm bàn tay nhỏ, lạnh ngắt và run rẩy ấy thật nhẹ nhàng.
“Anna”, cô nói khẽ. “Việc sở hữu và sử dụng công cụ cần thiết để yểm lời nguyền là phạm pháp. Nếu chúng tôi khám nghiệm thi thể cháu cô, bé Basil, chúng tôi sẽ biết ngay ai đã giết nó và dùng loại bùa chú nào.”
“Cô chỉ nói thế để dọa tôi thôi.”
“Ngay lúc này, có người của Hội Pháp Sư đang kiểm tra thi thể Basil Brouwer đấy.”, Emma bình thản nói.
Anna nhìn cô như thể đang nhìn thấy tận cùng của thế giới. Rồi cô ta cúi gằm mặt, tránh ánh mắt Emma.
Pháp sư luôn nghi ngờ bị yểm bùa trong những cái chết bất ngờ mà nguyên nhân tự nhiên không rõ ràng. Emma cũng đã tìm mọi manh mối phép thuật khác với hy vọng rằng mình đã nhầm, nhưng dù nhìn từ góc độ nào, kết luận duy nhất vẫn là một lời nguyền chết chóc.
Emma nhìn sâu vào gương mặt Anna, cố nở một nụ cười dịu dàng.
“Nghe này, Anna. Người phụ trách nhóm hỗ trợ đã kể tôi nghe rằng anh cô vẫn luôn đứng ra trả nợ giùm cô mỗi khi cô gây chuyện vì rượu, rồi đi xin lỗi từng người bị liên lụy. Cô đã tham gia nhóm hỗ trợ vì thấy có lỗi với Brecht, vì cô muốn thoát khỏi nghiện ngập. Tôi tin cô không hề muốn hại anh ấy, nhất là khi cô đã cố gắng như vậy. Hay thật ra cô ghét Brecht và Michelle đến mức muốn cướp đứa bé khỏi tay họ?”
“Không! Tôi không bao giờ ghét họ. Không phải lỗi của họ…”
Những giọt nước mắt to lăn dài trên mặt Anna, cô ta vùi mặt vào mảnh vải trong tay, lẩm bẩm gọi tên anh trai và chị dâu hết lần này đến lần khác.
Emma khẽ lắc tay cô ta, giọng nhẹ nhàng: “Kể tôi nghe mọi chuyện từ đầu đi. Chuyện gì đã xảy ra?”
Một lúc lâu, tất cả những gì Emma nghe thấy chỉ là tiếng nức nở, nhưng cuối cùng Anna cũng bắt đầu nói, giọng cô yếu ớt như luồng gió lùa qua khe cửa sổ.
Mọi chuyện bắt đầu từ lần Anna mang thai bốn năm trước. Khi cô vui mừng báo tin cho người bạn trai đã quen hai năm rằng cô đang mang thai, anh ta chẳng những không vui mừng mà còn đáp lại bằng bạo lực — hắn ta đã đánh đập bụng cô dã man. Anna ngất xỉu, tên đàn ông biến mất, và chưa đầy ba ngày sau khi biết mình mang thai, cô đã mất đứa con.
Rơi xuống đáy vực tuyệt vọng, cô uống rượu như thể muốn chết đuối trong men say, rồi gây náo loạn ở quán bar. Đến khi nhận ra thì cô đã nằm trong phòng giam. Cô đã kể hết mọi chuyện cho anh trai mình khi anh đến đón cô ra.
“Brecht và Michelle đã làm mọi thứ để giúp tôi vượt qua”, Anna nói, giọng lạc đi, siết chặt tay Emma. “Họ còn đi cùng tôi đến quán bar để xin lỗi người ta. Lúc đó tôi tệ lắm. Tôi nghĩ ít nhất mình cũng nên tham gia nhóm hỗ trợ mà tôi tìm được ở chợ. Tôi đã cố gắng hết sức.”
Anna dừng lại một nhịp rồi tiếp tục, giọng run run.
“Tôi đã cai được sáu tháng. Chị có thể nghĩ chừng đó chẳng là gì, nhưng tôi rất tự hào về bản thân. Khoảng thời gian đó, tôi biết tin Michelle mang thai. Thành thật mà nói, tôi rất mừng. Tôi cảm giác như mình được đền đáp cho mọi nỗ lực. Tôi giữ vững được sáu tháng nữa. Một năm liền tôi không động đến rượu. Tôi được chào đón đứa cháu trai xinh xắn của mình chào đời. Tôi hạnh phúc, tôi đã rất ổn…”
Ngay khi cuộc đời cô vừa trở lại đúng quỹ đạo, Anna nghe tin bạn cô sắp kết hôn. Vị hôn phu của người bạn ấy chính là gã bạn trai cũ, kẻ đã đánh đập cô đến mức sảy thai, và người bạn ấy đã mang thai ba tháng.
“Tôi giận dữ lắm. Thật không công bằng. Cái gã đã đánh tôi mất con lại sắp đeo nhẫn cưới, cưới bạn tôi và làm cha, sống hạnh phúc mãi mãi? Hắn còn trơ trẽn cười khi đưa tôi thiệp mời. Tôi mất kiểm soát. Tôi đi thẳng đến quán bar lần đầu tiên sau một năm và uống bất cứ thứ gì người ta đưa. Sau khi đã kiên cường đến thế…”
Anna cười chua chát, rồi thở hắt ra.
“Và rồi có một gã ngồi xuống cạnh tôi. Một người hoàn toàn xa lạ, nhưng hắn ta lắng nghe rất giỏi, vô cùng tử tế. Tôi đã kể hết cho hắn nghe. Mọi thứ tôi dồn nén… Và rồi hắn đưa tôi một con búp bê.”
“Cô còn nhớ búp bê đó thế nào không?”, Emma xen ngang.
“Búp bê con gái. Tóc dài, mặc bộ đồ dân tộc gì đó. Nhưng bụng thì mở ra, bên trong nhồi rơm. Gã nói tôi chỉ cần để một lọn tóc của ai đó kèm với giấy ghi điều ước vào bụng búp bê, rồi đốt nó đi. Nghe thì lạ, nhưng… lúc đó tôi tệ quá nên tôi cứ giữ con búp bê.”
Anna nhăn mặt, rên lên một tiếng.
“Tôi biết rõ mọi thứ thật ngu ngốc. Nhưng… tôi tin thật đấy. Mang con búp bê bên mình, tôi thậm chí còn cười được ở đám cưới của hắn. Tôi lợi dụng lúc hỗn loạn để giật tóc hắn, rồi trên tờ giấy, tôi viết ‘Tao mong mày cũng mất con như tao’. Tôi nhét tất cả vào búp bê rồi ném nó vào lò sưởi.”
“Rồi cô nghĩ búp bê đó đã làm điều ước thành sự thật?”, Emma hỏi.
“Làm gì có. Chỉ là một con búp bê thôi. Tôi nghĩ gã kia chỉ cố an ủi con bé tội nghiệp đang khóc vào cốc bia. Nhưng… sau đó bạn tôi gọi điện, khóc như mưa.”
Anna liếm môi mấy lần, ánh mắt tránh Emma.
“Đứa bé đã chết trong bụng nó. Tôi chẳng nhớ mình đã nói gì. Đầu óc tôi trống rỗng, tôi như hóa đá. Lần đầu tiên tôi mới thấy sợ… cái búp bê đó có thật.”
Trong đầu Emma hiện lên một từ cấm kỵ, Fluch doll, búp bê nguyền rủa, công cụ phép thuật nằm trong danh sách vật nguy hiểm bị cấm lưu hành, ngay cả người không có kiến thức phép thuật cũng có thể dùng. Nó vốn được làm bởi một tộc thiểu số bị bức hại trong liên bang, và đã mất tích khi làng của họ bị tàn phá. Chính con búp bê đó đã rơi vào tay Anna.
Emma cảm thấy tim mình thắt lại, còn Anna thì nói như nước vỡ bờ.
“Tôi không biết phải làm sao. Rồi gã ở quán bar đến nhà tôi. Hắn ta cười và hỏi búp bê thế nào rồi. Hắn còn nói cái gì mà việc tôi còn sống nghĩa là gia đình tôi sẽ phải trả giá. Hắn bảo, ‘Cô là tội phạm rồi. Cô đã giết người bằng nguyền rủa. Nếu tôi nói cho Hội Pháp Sư, cô và gia đình sẽ xong đời.’ Rồi hắn cười.”
“Hắn có cho cô tên tuổi… hay cách liên lạc không?”
“Không. Hắn chỉ khen cái búp bê thật tuyệt. Cái câu ‘gia đình cô sẽ phải trả giá’ làm tôi lo, nên tôi gọi cho Brecht, và… ảnh nói Basil chết rồi.”
Anna lại bật khóc, giật tay khỏi tay Emma và úp mặt vào khăn.
“Người đưa cô búp bê, có phải là người này không?”, Emma hạ giọng, mở điện thoại, cho Anna xem ảnh Gino Camicia.
Anna vừa nhìn đã run lên, cổ họng thắt lại, hơi thở đứt quãng.
“Đúng là hắn. Hắn cho tôi búp bê. Basil, tôi xin lỗi. Basil…”
Anna sụp đổ trong nước mắt. Emma ngồi cạnh, nhẹ nhàng xoa vai cô, kiên nhẫn dỗ dành.
“Cô đâu có biết búp bê đó là gì. Cô đã đau đớn, bóng tối vây quanh. Basil chắc chắn biết cô không cố ý. Nhưng nói tôi nghe một điều, được chứ? Sau đó gã có liên lạc với cô hay Michelle không?”
“Không.”, Anna lắc đầu. “Tôi tưởng hắn sẽ tống tiền, nhưng chẳng có gì. Tôi vẫn lo suốt. Lỡ tôi gặp hắn thì sao? Tôi biết làm gì?”
Vậy ra Anna chỉ là chất xúc tác cho bi kịch, còn Camicia chưa từng đe dọa cô. Emma suy nghĩ một lát rồi đổi hướng câu hỏi.
“Còn nhóm hỗ trợ? Tôi nghe nói cô không quay lại kể từ khi giới thiệu Michelle đến đó.”
“Tôi cảm thấy có lỗi. Tôi không dám nhìn mặt ai nữa, sau khi họ vừa chúc mừng tôi cai rượu. Tôi có đến mấy lần, nhưng không dám bước vào.”
“Tôi hiểu.”, Emma gật đầu thông cảm. “Michelle thì sao? Cô ấy hòa nhập với nhóm chứ?”
“Có… Chị ấy thân thiện mà, chắc nhanh chóng kết bạn. Nhưng có ai đó trong nhóm nói mấy điều ngớ ngẩn, chị ấy bắt đầu nghi ngờ bác sĩ. Tôi thấy lo…”
“Tôi hiểu rồi.”, Emma lại gật đầu.
Vậy không phải Anna là người thổi bùng ngờ vực trong Michelle, mà là ai đó từ nhóm hỗ trợ. Vì các thành viên đều ẩn danh, sẽ khó để Emma lần ra manh mối kết nối với Jikunokagu từ đây.
“Cô là người giới thiệu tiệm thuốc Kisage Chemist cho Michelle. Cô biết tiệm đó từ đâu?”
“Tiệm đó có tiếng tốt trong khu này.”, Anna nhún vai.
“Tôi nghĩ sẽ dễ hơn là bảo chị ấy đến bệnh viện, ít ra chị ấy cũng sẽ nói chuyện với ai đó. Tôi biết lời này chẳng có giá trị từ miệng một kẻ nghiện, nhưng Michelle có chuyện thật. Tôi nghĩ chị ấy cần ai đó ngoài Brecht, ai đó chuyên nghiệp hơn.”
“Cô thực sự quan tâm đến chị ấy, nhỉ?”, Emma dịu giọng, Anna quay sang nhìn, mắt sưng húp đỏ hoe.
“Nếu khám tử thi mà phát hiện ra là nguyền rủa”, Anna nói, “sao các người không tìm ra từ ba năm trước?”
“Bình thường bệnh viện và Hội Pháp Sư sẽ phối hợp điều tra, nhưng bác sĩ điều trị xác định cái chết của Basil là tai nạn đột ngột thường gặp ở trẻ nhỏ, nên không báo cho chúng tôi”, Emma giải thích.
“Tôi nghĩ tòa sẽ xem xét hoàn cảnh của cô, vì cô không cố ý che giấu tội. Nhưng tội vẫn là tội. Cô hiểu chứ?”
Anna khẽ gật đầu. Emma đưa tay ra, còng tay Anna lại, rồi kéo cô đứng lên, dùng chiếc áo gần đó che chiếc còng.
“Tất cả thật ngốc nghếch, đúng không?”, Anna thì thầm. “Chuyện rượu chè, thằng khốn đó… Tin lời một gã lạ mặt. Giờ thì tôi không còn đường quay lại…”
Emma hít một hơi, rồi nhẹ nhàng đẩy Anna về phía trước.
“Đúng vậy. Và vì thế, ai làm thì phải trả giá. Cô, dù cô nguyền rủa mà không biết đó là gì; kẻ đã đánh đập cô khiến cô mất con bốn năm trước; và cả kẻ đã đưa cô búp bê. Hiểu chứ?”
Anna không trả lời, nhưng vẻ mặt cô an yên lạ lùng khi ngồi ở băng ghế sau xe cảnh sát. Emma leo lên ghế lái, lòng bỗng trống trải.
Mọi phép thuật đều cần có giá và vật trung gian. Pháp sư tạo ra phép màu bằng cách trả giá bằng ma lực và chuẩn bị vật dẫn phù hợp. Nhưng cơ chế của nguyền rủa thì khác. Nguyền rủa là một phép màu đơn lẻ, chỉ cần đủ điều kiện và công cụ là kích hoạt được. Cái giá của nguyền rủa là thứ nó giáng lên nạn nhân cũng sẽ trút xuống kẻ thi triển. Cầu cho ai chết, thì cái chết cũng mời gọi chính mình. Nguyền rủa chỉ sinh ra bất hạnh cho tất cả. Trong trường hợp của Anna, vì cô ước một đứa trẻ chết, cái giá đã được lấy từ đứa trẻ gần gũi nhất với cô, con trai của Brecht, bởi cô không có con.
Nguyền rủa luôn kéo theo một chuỗi bi kịch liên hoàn. Vì vậy, việc sử dụng và sở hữu công cụ nguyền rủa mới bị cấm ngặt. Hiểu rõ cơ chế dây chuyền đó, Emma không thể nhắm mắt làm ngơ cho những gì Anna đã làm. Hay cho cả Camicia, kẻ đã đưa búp bê cho cô.
Tao sẽ xé cái mặt nạ của mày ra và tống mày vào tù, Gino Camicia.
Emma siết chặt vô lăng. Có lẽ cô đã đúng khi quyết định không lên con tàu du lịch đó. Nếu gặp Camicia, có lẽ cô sẽ đấm hắn một phát rồi quăng thẳng xuống biển, thay vì bắt giữ hắn.
*****
Khi Theo và Eleven đã đi một vòng khắp các khu vực dành cho hành khách trên tàu và trở về phòng, mặt trời cũng đã bắt đầu lặn. Phòng hạng sang của họ, một trong những dãy phòng xa hoa bậc nhất trên con tàu, được trang bị cả toilet, bồn tắm và thậm chí một gian bếp nhỏ, quá dư dả cho hai người. Biển cả quen thuộc ở cảng Zabahlio nhìn qua khung cửa sổ của một căn phòng như thế lại trở nên đặc biệt hơn hẳn.
Theo thở dài khi xỏ tay vào chiếc quân phục mà đã hai năm rồi anh chưa mặc lại.
“Tôi biết mọi thứ đều được liệt kê rõ ràng trong tờ giới thiệu, nhưng thực sự vẫn choáng ngợp khi tận mắt chứng kiế? Con tàu này rộng kinh khủng. Bao nhiêu cửa tiệm, dịch vụ, chưa kể còn có đủ thứ lớp học, chương trình. Thể thao dưới biển cũng có luôn, cô biết không?”
“Khả năng truy đuổi mục tiêu của chúng ta sẽ giảm đi đáng kể khi hành khách tản ra khắp nơi. Vì vậy, việc tập trung vào những dịp mà tất cả hành khách đều tập trung một chỗ là điều thiết yếu”, Eleven trả lời vọng ra từ sau cánh cửa phòng tắm. Trong giọng nói của cô không còn chút gì của Alouette, cô gái ngây thơ hớn hở khi chiều nữa.
Nghĩ tới công việc đang chờ mình, Theo chợt thấy lòng nặng trĩu. Anh uể oải với tay chỉnh lại cà vạt.
“Nếu tối nay mà bỏ lỡ buổi tiệc chào mừng, thì đến sự kiện xã giao ngày mai mới có dịp khác để gom mọi người lại một chỗ. Tối nay chúng ta phải đánh hơi ra Camicia và xem hắn định làm gì.”
“Họ đã yêu cầu mọi người phải có mặt trong buổi tiệc chào mừng, chắc chắn Camicia cũng sẽ tới để tìm khách hàng”, Eleven đáp.
“Tobias cũng sẽ có mặt với tư cách nhân viên. Vẫn có khả năng phát hiện ra hắn.”
“Nghe thì dễ, nhưng sẽ có cả đống người ở đó mà, đúng không? Cô có kế hoạch gì chưa?”
“Rất đơn giản thôi. Chỉ cần thu hút sự chú ý.”
Cánh cửa bật mở, tiếng giày cao gót đen gõ lách cách trên sàn làm Theo vô thức ngoái lại.
Eleven đã thay sang một chiếc váy xếp ly màu xanh hải quân. Cổ áo cao có viền bèo nhún làm nổi bật chiếc cổ mảnh mai, còn những dải ruy băng từ gáy cô rủ dài xuống tận sau đầu gối, đong đưa theo tà váy. Hình như cô cũng đã đổi cách trang điểm. Nhìn cô lúc này mang vẻ chín chắn, khác hẳn hình ảnh Alouette buổi chiều.
Theo ngơ ngẩn nhìn cô, lẩm bẩm:
“Những trò biến hóa của cô rốt cuộc là học từ đâu ra vậy?”
“Cảm ơn anh đã công nhận năng lực ngụy trang của tôi.”, Eleven nói rồi đưa tay tháo chiếc cà vạt của Theo ra, chỉnh lại một cách khéo léo.
“Cô còn phải che tay đến mức ấy sao?”, Anh liếc đôi găng tay opera màu đen lấp lánh phủ kín tay cô.
“Tôi đã xác nhận với Emma. Che tay sẽ càng khiến người ta tò mò.”
Không biết từ lúc nào, cô đã đứng gần đến mức anh gần như có thể đếm được hàng mi bạc của cô. Màu phấn mắt tiệp với màu váy, hòa với làn da trắng xanh đặc trưng của cô, càng tôn thêm ánh nhìn lạnh lùng.
“Có gì khiến anh bận tâm sao?”, Cô hỏi khi thấy anh nhìn chằm chằm.
“À…”, Anh giật mình thoát khỏi dòng suy nghĩ. “Vậy tức là tôi cũng phải tỏ ra như không để ý cánh tay nhân tạo của cô.”
“Đúng vậy. Tôi đã được dặn phải tránh hoàn toàn việc bắt tay hay tiếp xúc với người khác, chỉ được phép chạm vào anh.”
“Emma không thể tự đi nên đã chuẩn bị cho cô kỹ ghê.”, Anh lầm bầm.
Eleven chỉnh cổ áo cho anh, rồi lùi lại một bước, nhìn anh từ đầu tới chân.
“Bộ quân phục trang trọng là lựa chọn đúng”, cô nhận xét. “Nó sẽ làm người khác kiêng dè hơn so với một bộ tuxedo.”
“Miễn sao đỡ mất thời gian đôi co với đám nhà giàu ngớ ngẩn đó là được.”, Anh cộc lốc đáp.
Việc duy nhất anh đến con tàu này là để xử lý Gino Camicia. Anh không có hứng phí hơi cho đám người dưng lắm tiền kia. Anh đeo lại đồng hồ, rồi kiểm tra lại chương trình tham quan được phát cho hành khách.
Buổi tiệc chào mừng bắt đầu hai tiếng sau khi tàu rời bến. Sau tiệc, hành khách được tự do làm gì tùy thích. Mặc dù bữa tối cũng có khung giờ cố định, nhưng Theo không loại trừ khả năng Camicia sẽ gọi phục vụ tận phòng thay vì ra nhà hàng, vì hắn đã đặt riêng cả một salon cho chuyến đi.
Anh kiểm tra khẩu súng, cất lại vào bao, rồi nhặt chìa khóa phòng.
“Được rồi”, anh nhìn Eleven. “Chúng ta đi thôi? Tôi trông cậy vào cô chỉ dẫn cho anh mấy phép tắc.”
“Rõ. Tôi sẽ không nhắc nhở quá khắt khe đâu.”, Eleven đáp bằng giọng bình thản, rồi bước tới đứng cạnh anh.
*****
Tobias đi một vòng trong buổi tiệc chào mừng, phát rượu cho khách bằng nụ cười thân thiện, rồi hướng mắt về phía lối vào sảnh chính khi có những hành khách mới đến. Đó là Theo và Eleven. Tuy anh đã biết trước họ sẽ ăn mặc thế nào, chuyện này đã được bàn đi bàn lại suốt các buổi họp, nhưng Tobias vẫn không khỏi sững người khi lần đầu tiên tận mắt nhìn thấy họ.
Theo mặc quân phục lễ nghi chỉnh tề, mái tóc đỏ sậm được chải ngược gọn gàng. Bộ quân phục khiến anh trông chuẩn mực như một quân nhân chính hiệu, nhưng kết hợp với gương mặt nghiêm nghị và tư thế thẳng tắp của anh, vẻ oai phong lẫm liệt át hẳn sự cứng nhắc lễ nghi.
Eleven mặc một chiếc váy xếp ly không tay, tóc bạc được búi lên tao nhã. Đôi vai để trần, còn đôi găng tay opera màu đen phủ kín gần hết cánh tay. Cô vừa mang vẻ ngây thơ của một thiếu nữ, lại vừa toát ra nét bí ẩn; ánh mắt tự tin hơn nhiều so với vẻ trẻ trung của cô, khiến người ta không đoán được tuổi thật.
Cả hai bước vào sảnh, tay khoác tay đầy thân mật, lập tức thu hút ánh nhìn của vô số hành khách. Cô gái đảo mắt lơ đãng quanh phòng rồi bỗng bật cười tươi như một bông hoa bừng nở.
“Chú Désiré!”, cô gọi, và vị trung tướng cùng phu nhân quay lại.
“Ồ! Cháu đây rồi, Alouette!”, Vị tướng già lão luyện, con sư tử của Adastrah, nở nụ cười đầy mưu lược đón cháu, còn cô gái, Alouette, thì duyên dáng mỉm cười, rút chân trái ra sau, cúi chào bằng một động tác curtsey đẹp không tì vết.
Những hành khách đứng quanh Tobias buông tiếng trầm trồ thán phục, và chỉ trong chớp mắt, tiếng thì thầm đã lan ra khắp sảnh.
“Tôi chưa từng thấy cô ấy trước đây. Điệu curtsey thật thanh nhã.”
“Dễ thương quá! Như một chú chim nhỏ vậy.”
“Alouette… Tôi nghe cái tên này rồi. Có phải cháu gái cưng của trung tướng không?”
“Nếu đã gặp trong các buổi dạ hội trước đây, tôi chắc chắn không thể quên được một mỹ nhân thế này. Có lẽ cô ấy chưa chính thức ra mắt xã hội?”
Tuyệt thật. Tobias ngạc nhiên. Eleven chẳng làm gì quá đặc biệt, vậy mà chỉ với vẻ ngoài xuất chúng và chút diễn xuất duyên dáng, cô đã khiến mọi người xung quanh không ngừng bàn tán về mình. Chính anh cũng suýt bị mê hoặc, nhưng rồi nhanh chóng đưa mắt rà soát đám đông.
Tin đồn về cô gái xinh đẹp và bí ẩn nhanh chóng lan ra như sóng. Một vị khách ở góc xa đập vào mắt Tobias khiến anh giật mình. Anh quay người, bước về phía Theo và Eleven, nhưng vẫn cố giữ tốc độ đủ chậm để không gây chú ý.
Cặp đôi trẻ đứng cạnh trung tướng và phu nhân trông cứ như bước ra từ một bức tranh.
“Chú Désiré, dì Liddy”, cô gái vẫn mỉm cười. “Cháu thật sự cảm ơn hai người đã mời bọn cháu.”
“Dĩ nhiên rồi, cháu yêu.”, Phu nhân phẩy tay nhẹ. “Bọn dì sao nỡ từ chối Alouette quý giá của mình. Phải không, Desi?”
“Đúng vậy.”, Trung tướng gật đầu chắc nịch. “Vả lại ta cũng muốn trò chuyện với hạ sĩ lâu rồi.”
“Thật vinh hạnh, thưa ngài”, Theo đáp.
Cuộc nói chuyện diễn ra nhẹ nhàng, thoải mái. Nhưng khi Theo bắt tay Cormolone, anh khéo léo nhét một mảnh giấy vào tay ông, và Cormolone khẽ gật đầu trước khi giấu nó vào tay áo.
“Các vị có dùng chút rượu không?”, Tobias hỏi Theo bằng giọng tự nhiên.
“Cảm ơn. Chúng tôi rất muốn.”, Theo cầm một ly từ khay, còn Tobias hơi cúi người xuống để Alouette dễ lấy hơn.
“Cột trụ thứ ba từ cuối lên, bên trái”, anh thì thầm đủ cho bốn người quanh đó nghe.
Alouette mỉm cười cầm ly, còn Theo khẽ mấp máy môi ra hiệu đã hiểu, đồng thời che miệng bằng ly của mình.
Tobias đưa mắt nhìn về phía cuối sảnh khi đón khách mới. Dựa lưng vào một cây cột trang trí đầy hoa lộng lẫy, Gino Camicia đang trò chuyện vui vẻ với một nhóm hành khách.
*****
Khi làn sóng trò chuyện và đám đông tản ra, Theo khẽ thở ra một hơi. Anh đã từng băn khoăn không biết mọi chuyện sẽ thế nào khi họ quyết định anh sẽ đóng vai bạn trai của Eleven, nhưng nghĩ kỹ lại, cũng chẳng phải là họ sẽ phải thân mật công khai trước mặt mọi người. Anh chỉ cần đứng cạnh cô ấy, hoặc khoác tay đi bên nhau. Phần khó nhất của vai diễn này chính là việc trò chuyện với giới thượng lưu sao cho không khiến ai nghi ngờ hay đặt câu hỏi về thân phận thực sự của họ.
Ai cũng tò mò về cặp đôi lạ mặt này, nên hết lượt người này đến lượt người khác tiến đến bắt chuyện. Theo vốn được xem là một quân nhân quê mùa, nên cho dù anh có lúng túng trước những lễ nghi và xu hướng xã hội mà Eleven đã cố nhồi nhét vào đầu anh, người ta cũng sẽ bỏ qua. Nhưng Eleven thì được cho là cháu gái của một trung tướng có tiếng, thế nên không ít ánh mắt và lời lẽ dường như chỉ để thăm dò cô. Đứng bên cạnh, Theo mấy lần tim muốn nhảy ra khỏi lồng ngực vì lo.
Sau một cuộc trò chuyện nữa mà Eleven xử lý trôi chảy với một kẻ tò mò như vậy, Theo thì thầm với cô,
“Xin lỗi nhé. Tôi cần nghỉ một lát.”
“Được thôi. Tôi cũng hơi khát rồi. Chúng ta ra quầy bar đi”, cô đáp, vẫn giữ nụ cười của Alouette.
Nhưng rồi cô nhìn thấy một quý ông tiến đến chào, thế là cô nhanh chóng cúi đầu chào ông trước khi ông kịp đưa tay ra bắt. Cô giữ hai tay trước bụng khi ngẩng đầu lên, khiến vị quý ông không tiện đưa tay ra nữa, thay vào đó ông ta đặt tay lên ngực.
“Rất vinh hạnh được gặp cô”, ông mỉm cười.
“Tôi tên là Damian. Trung tướng Cormolone chưa từng đưa ai trong gia đình đi cùng ngoài phu nhân, nên tôi muốn nhân dịp này đến chào hỏi.”
“Cảm ơn ngài rất nhiều”, Eleven đáp lại ấm áp. “Thật vinh hạnh cho tôi. Tôi tên là Alouette. Còn đây là Theo.”
“Rất vui được gặp ngài.”, Theo cúi đầu. “Tôi nợ trung tướng mạng sống của mình không chỉ một lần.”
“À, vậy sao?”, Vị quý ông gật đầu, nụ cười càng rộng hơn.
“Vậy có lẽ chúng ta từng ở chiến dịch Vespa cùng nhau. Dù khi đó tôi còn ở phe Shelkroshett.”
“Đó là cái tên tôi đã lâu không nghe nhắc đến”, Theo nói.
“Hồi đó tôi chỉ là tân binh. Chỉ lo chạy theo hộ tống xe tiếp tế.”
“Việc đó cũng quan trọng lắm chứ. Hết đạn là coi như chết—”, Damian đột nhiên ngưng lại.
“Ôi trời! Tiểu thư Alouette, cô không khỏe sao? Trông cô nhợt nhạt quá.”
Theo cúi nhìn thì thấy má Eleven hơi tái đi.
Cô ngước lên, khẽ thở hổn hển rồi mỉm cười, đưa tay đặt lên ngực.
“Tôi thật xin lỗi. Đây là lần đầu tôi dự tiệc kiểu này. Có lẽ tôi hơi mệt.”
“Lỗi là ở tôi, đã không tinh ý hơn”, vị quý ông lập tức nói. “Bên kia có vài chiếc ghế, cô có thể ngồi nghỉ một lát được không?”
“Vậy tôi xin phép, cảm ơn ngài.”, Cô cúi đầu duyên dáng. “Xin thất lễ.”
Theo nắm tay Eleven, dìu cô đi về dãy ghế dọc tường, đỡ cô ngồi xuống. Anh khẽ nói,
“Tuyệt vời. Được một người tốt cứu nguy.”
“Ông ấy là con trai một tập đoàn tài trợ khổng lồ cho các tổ chức y tế”, Eleven đáp, rồi cười tinh quái.
“Để giữ hình ảnh công chúng, ông ấy ưu tiên cho tôi nghỉ ngơi hơn là cơ hội xã giao của bản thân. Hoặc cũng có thể ông ấy vốn đã tốt tính như vậy. Ông ấy dễ mến thật.”
Trong đầu cô lúc nào cũng chất đầy tên tuổi các gia tộc thượng lưu, những thành tựu và ngành nghề chính của họ, mối quan hệ giữa họ với nhau, xu hướng xã hội, chủ đề trò chuyện phù hợp, cách ứng xử đúng mực trong mọi tình huống — và vô số thứ khác. Nhờ nắm chắc những điều đó, cô lựa chọn khi nào sẽ cư xử hoàn hảo, khi nào sẽ tỏ ra lơ đễnh đôi chút, tùy đối tượng. Đánh giá của mọi người về cô đều rất tốt: “Đúng là tiểu thư nhà Cormolone!”, và “Thật tự nhiên, duyên dáng làm sao.”
…Cô đúng là đáng sợ đấy”, Theo nhận xét.
“Lời khen tuyệt nhất rồi”, cô tươi rói nhìn anh. “Cảm ơn.”
Anh ngồi xuống cạnh cô, cuối cùng mới thở phào ra được. Bờ vai anh giãn ra, ánh mắt lặng lẽ quan sát sảnh tiệc.
“…Tên kia đã nhìn cô từ đầu đến giờ”, anh nói khẽ.
“Phải gọi là chằm chằm mới đúng”, Eleven thì thầm, khẽ kéo chỉnh găng tay opera. “Hắn không thể kín đáo hơn khi dò xét tôi sao?”
Mặc dù Gino Camicia tuyệt nhiên không hề tiếp cận Eleven, hắn vẫn dõi theo từng cử động của cô không rời. Hắn đặc biệt chú ý khi cô từ chối bắt tay hay để người khác hôn lên mu bàn tay. Nhưng khác với những hành khách khác, ánh mắt của hắn không phải si mê, mà là một kiểu soi mói khác thường.
“Hắn đang nghi ngờ cánh tay của cô”, Theo nói, giọng trầm xuống.
“Mọi chuyện đến giờ vẫn đúng kế hoạch”, Eleven đáp. “Chúng ta thực sự cứ mặc kệ hắn sao?”
“Ừm. Đợi hắn cắn câu đã. Kẻ nghĩ rằng mình đã hiểu tường tận mọi chuyện là kẻ mất cảnh giác nhất.”
Dù tránh không tiếp cận Camicia trực tiếp, họ vẫn đang thu nhặt được vài thông tin về nhóm của hắn. Chưa có thứ gì giá trị lớn, nhưng cũng đã xác nhận được vài điều.
“Chắc chắn có ba tên ở đây chứ?”, Theo hỏi Eleven.
“Ừ. Một nội tạng, hai cái chân. Có lẽ chúng tặng bạn bè miễn phí.”
Camicia cùng đám bám đuôi của hắn liên tục đảo quanh hội trường, bắt chuyện rôm rả với mọi người, nhưng chúng cũng thường xuyên tụ tập lại và trao đổi riêng. Camicia rất quen mặt với nhiều người, và tuy Eleven và Theo chưa thể khẳng định tất cả bọn chúng đều thuộc Jikunokagu, cô đã phát hiện lõi Amalgam bên trong ít nhất ba kẻ. Ba người trong buổi tiệc này đang dùng proxy, giống hệt nhà Brouwer đã làm. Bọn chúng khi nói chuyện với Camicia thì ghé sát tai nhau, cho thấy mối quan hệ rất thân mật. Có thể tin chắc rằng chúng không phải khách hàng mà là bạn bè.
“Tôi không ngờ Jikunokagu lại lộ diện thoải mái như vậy”, Theo nhận xét. “Quan hệ với giới thượng lưu còn thân thiết hơn tôi nghĩ.”
“Ừm.”, Eleven gật đầu. “Đôi bên đều có thứ bên kia cần. Hoặc cũng có thể giới giàu có chỉ đơn giản thích mấy chuyện huyền bí.”
Anh thở dài, ngả người ra ghế. Việc biết được sản phẩm Jikunokagu bí mật trở thành mốt trong một nhóm thượng lưu cũng khiến anh bất ngờ. Mấy món hàng giới hạn, dân thường không mua được, lại càng được săn lùng.
“Những người thực sự đã mua thứ này, họ mê mệt thật nhỉ?”, anh nói với Eleven.
“Cứ thao thao bất tuyệt nào là hiệu quả ra sao, các thứ… đúng là cuồng tín.”
“Chuyện này không hẳn là ‘chào hàng’ mà giống ‘truyền giáo’ thì đúng hơn, nhỉ? Họ tin chắc rằng mình đang nắm thứ gì đó tuyệt vời.”
Những người thật sự trung thành với Jikunokagu chỉ là một nhóm nhỏ. Những ai có hiểu biết sơ qua về Đông Akaryaza đều lắc đầu ngán ngẩm, bảo rằng các sản phẩm của Jikunokagu chỉ là đồ vớ vẩn, và cũng có không ít người tránh xa bất kỳ món đồ nào có hơi hướng huyền bí. Có lẽ cũng vì thế, ngay khi các khách hàng của Jikunokagu biết được Theo và Eleven quan tâm, họ lập tức thao thao bất tuyệt về hiệu quả thần kỳ của mấy món hàng đó.
“Họ kể đủ thứ, nào là ‘Tôi trẻ lại rồi’, ‘Cuộc đời tôi khá hơn’, ‘Tôi được thăng chức’, ‘Tôi kiếm ra nhiều tiền hơn’.”, Anh lắc đầu.
“Toàn những kết quả tuyệt diệu mà chẳng liên quan gì đến thu nhập cả.”
“Vậy mà những thứ họ đưa cho chúng ta chỉ là mấy mảnh gỗ hay miếng vải vụn. Chẳng có bằng chứng nào cho mấy loại thực phẩm chức năng hay dụng cụ mà họ đồn thổi cả. Nếu thực sự có thứ gì tác động mạnh đến cơ thể con người như thế, Hội Pháp Sư đã vào cuộc kiểm soát rồi. Chỉ toàn là đồ giả.”
Eleven cười gượng và khẽ vứt miếng gỗ vừa được tặng xuống dưới ghế. Người tặng đã nói rất hăng rằng chỉ cần mang theo bên người là sẽ gặp may mắn về tiền bạc, nhưng cô nhanh chóng xác định đó chỉ là một khúc gỗ sồi.
“Đúng kiểu hiệu ứng giả dược thôi”, Theo nhận xét.
“Nhưng tôi vẫn tò mò về những người nói rằng họ đã hồi phục được chức năng cơ thể.”
“Mấy người kể rằng họ lấy lại được thị lực hay chân cứng cáp trở lại, không cần ngồi xe lăn nữa, đúng không?”, Eleven nói.
Theo khẽ nhíu mày, đưa tay xoa trán.
Tất cả những câu chuyện họ nghe về tác dụng thần kỳ của sản phẩm Jikunokagu đều chỉ là kinh nghiệm truyền miệng. Nhưng những câu chuyện kiểu có người lấy lại được chức năng cơ thể bị mất hoặc hồi phục được khả năng từ khi mới sinh đều chỉ là kể lại gián tiếp. Không ai kể cụ thể chi tiết, chỉ nói đó là một “phép màu”, chẳng có chứng cứ rõ ràng.
“Một phép màu chỉ ban cho số ít người được chọn?”, Theo nhướn mày, giọng đầy hoài nghi.
“Họ nói hăng lắm, nhưng rốt cuộc chẳng tiết lộ được điều gì có giá trị. Có khi họ sẽ trình diễn mấy ‘phép màu’ đó trong buổi salon nếu chúng ta mời họ cũng nên.”
“Cũng có thể lắm, nếu họ muốn trình diễn proxy. Hoặc biết đâu họ còn có món hàng kỳ diệu hơn”, Eleven khẽ cười, rồi nghiêng đầu.
“Dù vậy, tôi vẫn tò mò không biết mấy người kể chuyện với chúng ta về salon thực sự có tham gia hay chỉ nghe đồn. Ai nấy đều dặn giữ bí mật, nhưng liệu họ thực sự muốn giấu giếm?”
“Cô nói đúng.”, Anh gật đầu đồng ý.
“Vì họ cứ ba hoa mãi về món hàng bí ẩn đó làm tôi muốn bịt tai luôn. Có khi họ cũng chỉ muốn giữ kín thông tin về người tham gia salon. Họ muốn thiên hạ biết về sự tồn tại của salon, nhưng lại không để lộ chi tiết, chỉ giữ ở mức tin đồn.”
“Vì thứ gì càng mờ ảo thì con người lại càng tò mò mà.”
Liệu đây có phải là chiến lược kích thích tò mò, buộc người ta phải tìm mọi cách xin lời mời? Hay nhóm này thực sự rất khắt khe trong việc chọn hành khách tham gia? Lúc này Theo vẫn chưa thể chắc chắn.
“Vậy những kẻ cần để mắt nhất là đám bán hàng”, anh nói.
“Có vẻ họ đã chọn xong khách hàng rồi. Tôi sẽ khoanh vùng mục tiêu quan sát và phân nhóm theo dõi.”
Theo ngẩng lên, Eleven liếc mắt về phía vài hành khách. Những người phải ngồi xe lăn rất dễ thấy trong một bữa tiệc buffet đứng như thế này, và anh còn thấy có người giấu khung tập đi trong bộ tuxedo rộng thùng thình. Một vài khách khác thì không bao giờ tháo găng tay, giống Eleven. Và tất cả những người này đều lọt vào tầm ngắm của Camicia cùng một vài kẻ khác.
“Chiến lược của họ giống hệt chúng ta, nên họ mới chưa tiếp cận?”, Theo lẩm bẩm.
“Có thể họ đang tìm cách tạo quan hệ bạn bè”, Eleven nói. “Tìm sở thích chung, người quen chung, đại loại vậy.”
“Cũng có lý… Tôi đi lấy đồ uống. cô muốn uống gì?”
“Anh cứ chọn cho tôi đi. Cảm ơn anh, Theo.”,
Một nụ cười yếu ớt hiện lên trên gương mặt tái nhợt quá mức của cô, khiến cô trông mong manh như ảo ảnh. Nhìn cô thế này, thật khó tin cô chính là vũ khí có thể đấm bay cả một chiếc xe chỉ bằng một cú.
Khi Theo đang gọi đồ uống ở quầy bar, một người đến đứng bên cạnh anh. Anh liếc sang và lập tức nghiến răng trong lòng, dù ngoài mặt không để lộ cảm xúc.
Gino Camicia đang ở ngay đó, gọi một ly rượu vang sủi bọt từ bartender.
“Của ngài đây ạ.”, Người phục vụ đẩy hai ly về phía Theo—một ly rượu, một ly soda chanh.
“Ơ… Cảm ơn.”, Theo cầm lấy hai ly, rồi hơi cau mày. Ly soda chanh có thêm một quả anh đào đỏ tươi nổi trên mặt.
“Một món quà nhỏ cho bạn gái ngài đấy”, bartender nói, má hơi đỏ lên.
“Ha ha… Thế thì cảm ơn cậu nhé”, Theo cười gượng.
Anh cứ nghĩ mình đã quá quen với sự duyên dáng, phi phàm của Eleven, nhưng hóa ra cô còn có thể khiến người khác say mê đến vậy. Cũng dễ hiểu thôi, vì chính anh dù thấy cô hằng ngày vẫn nhiều lần chết lặng trước nụ cười của cô.
Bỗng anh nghe thấy một tiếng cười khe khẽ bên cạnh, và theo phản xạ, anh ngẩng mặt lên.
“Xin lỗi nhé.”, Camicia đón ly rượu, rồi nâng ly hướng về Theo. “Chắc mệt mỏi lắm khi ai cũng phải lòng bạn gái anh.”
“Có lẽ vậy.”, Theo nhún vai. “Dù sao thì tôi cũng chẳng hết lo lắng.”
“Trời ơi!”, Camicia nhướn mày đầy kịch tính. “Lo cô ấy đổi ý sao? Hay sợ anh không thể chu cấp cho cô ấy điều cô ấy cần?”
“Tôi không chắc hiểu ý ông muốn nói gì.”, Theo lựa lời, cố không để câu trả lời trở nên khiếm nhã.
Camicia nhấp rượu, nụ cười càng rộng hơn.
“Tôi không thể rời mắt khỏi cô ấy. Chuyện này khá phổ biến ở người trẻ, anh biết đấy. Họ không kịp thay bộ phận tổng hợp mới khi lớn lên, nên ảnh hưởng đến phát triển thể chất về sau.”
“Thật tệ hại. Nhưng chuyện đó không liên quan đến chúng tôi.”
Theo rời khỏi quầy bar, cẩn thận tránh va vào khách khác. Nhưng anh chưa kịp đi được mấy bước thì Camicia đã lách ra chặn trước mặt.
“Cô ấy là một người tuyệt vời. Mảnh mai, dễ thương, như một con chim nhỏ mong manh”, Camicia nói. “Nhưng nếu đó là hậu quả của việc phát triển bị kìm hãm thì thật đáng thương. Là bạn trai, anh lo lắng cũng phải thôi.”
“Tôi hiểu là cô ấy trông trẻ hơn tuổi. Nhưng chúng ta mới gặp lần đầu, tôi nghĩ ông không có quyền phán đoán như vậy. Làm ơn tránh ra.”
Khi Theo lườm Camicia, nụ cười của gã lại càng rộng hơn.
“Thứ lỗi nhé”, Camicia nhanh chóng đáp.
“Tôi vốn mềm lòng, chỉ muốn đưa ra một gợi ý có thể hữu ích. Anh không muốn cô ấy sống hạnh phúc, thoải mái mà không cần che giấu đôi tay sao? Tôi sẽ rất hân hạnh được giúp cô ấy tận hưởng cuộc sống trọn vẹn, ngay cả khi anh đi vắng vì nhiệm vụ quân sự.”
“Ông cứ—”, Theo định đáp, nhưng Camicia ngắt lời.
“Bi kịch cũng là một phần của đời người. Nhưng đôi khi ta có cơ hội làm lại, anh lính trẻ. Sẽ ra sao nếu cô ấy có thể sống đúng cuộc đời đáng lẽ cô ấy phải có, với hai cánh tay khỏe mạnh, xinh đẹp?”
“Tôi hiểu rồi.”, Theo nhíu mày.
Camicia tin chắc rằng tay của Alouette là bộ phận tổng hợp, và giờ gã đang ra sức loại bỏ trở ngại lớn nhất, chính là Theo. Đúng như Tobias và Emma đã dự đoán, Camicia muốn chiêu dụ Theo trước để thuyết phục Alouette mua hàng dễ hơn.
“Kỳ nghỉ bên nhau, vậy mà cô ấy vẫn chỉ nghĩ về cánh tay của mình”, Camicia nói trơn tru.
“Tôi đoán cô ấy chẳng dám ra hồ bơi, cũng chẳng dám lên boong ngắm gió biển. Nếu anh tặng nhẫn, có khi cô ấy còn không đeo. Và buồn nhất là bàn tay anh nhớ về cô ấy trên chiến trường chỉ còn lạnh lẽo, cứng ngắc. Thử tưởng tượng xem sẽ tuyệt thế nào nếu cô ấy có thể chạm vào anh bằng chính đôi tay thật, nở nụ cười không còn u ám, chia sẻ hơi ấm thực sự.”
Đòn tấn công này thật hiểm. Nếu người anh yêu nhất trên đời đánh mất đôi tay, mọi mơ ước sụp đổ, thời gian ngừng lại vì phải dùng bộ phận tổng hợp, khiến cô ấy mắc kẹt trong thân hình thiếu nữ mà bản thân không hề muốn, rồi cô ấy xa lánh tiếp xúc và luôn giấu tay, thì dù cô ấy có được vật chất đầy đủ, anh vẫn sẽ cảm thấy thương xót, tiếc nuối, phải chi cô ấy chưa bao giờ mất tay. Nếu anh đã biết sự mềm mại của da thịt trước khi biết đến cảm giác lạnh lẽo của tay nhân tạo, anh càng day dứt hơn.
Giờ thì Theo đã hiểu cách Camicia muốn tấn công, anh đẩy gã sang một bên.
“Xin lỗi nhé. Cô ấy đang chờ tôi.”
“Nhưng hãy suy nghĩ về tương lai mà anh có thể có”, Camicia nói, nhưng gã đứng yên chứ không bám theo nữa.
Theo quay về bên Eleven và đưa ly soda chanh cho cô.
“Tôi nghe anh nói chuyện rồi đấy”, cô nhận ly bằng cả hai tay. “Tôi tưởng hắn sẽ bám riết cơ.”
“Tôi đã để hắn thấy hắn đã chọc tức được anh”, Theo trả lời. “Vậy là đủ với hạng người như hắn rồi.”
“Anh nghĩ hắn sẽ hiểu sự im lặng của anh là một phát bắn trúng đích sao?”
“Hắn có vẻ hưởng ứng với điều đó thật đấy.”
Theo ngồi xuống và liếc nhìn lại một cách tự nhiên. Camicia cúi đầu chào họ rồi bước đi nhập vào một nhóm khác.
“Khi Camicia tiếp cận anh, đám bạn của hắn cũng lập tức tản ra và bắt đầu trò chuyện với các hành khách khác”, Eleven nói với anh.
“Nhưng không ai nhắm thẳng vào người đang có vấn đề sức khỏe cả, bọn họ đều tiếp cận những người đi cùng.”
“Một mánh mà bọn chúng chia sẻ với nhau.”, Theo gật gù tỏ vẻ đã hiểu.
“Đầu tiên, chúng cô lập người thân cận nhất với mục tiêu thật, vẽ ra một viễn cảnh tương lai tươi đẹp, thả cho họ mơ mộng về tương lai đó rồi quan sát phản ứng. Không nghi ngờ gì là dễ khiến gia đình, bạn bè trăn trở về tiềm năng bị đánh mất hơn là chính người trong cuộc.”
Eleven nghiêng đầu: “Vì gia đình đã mệt mỏi sao?”
“Không. Vì họ yêu người thân của mình nên họ cầu nguyện cho một tương lai tốt đẹp hơn cho người đó.”,
Anh đưa tay trái ra, và Eleven nhẹ nhàng đặt tay mình vào tay anh. Bàn tay cô nhỏ và cứng.
“Cô có thể nhìn Camicia mà vẫn nhìn anh được không?”
“Tôi vẫn nhìn thấy hắn. Chúng ta ổn mà”, cô đáp.
Từ bên ngoài nhìn vào, họ chỉ như một đôi tình nhân đang nắm tay và đắm đuối nhìn nhau. Anh khẽ lướt ngón cái trên lòng bàn tay cô, và cô bật cười khúc khích.
“Hắn đang nhìn chằm chằm vào chúng ta”, cô nói khẽ. “Đó là điều anh muốn sao?”
“Tôi chỉ mong hắn tin là bài diễn thuyết của hắn có hiệu quả”, Theo lẩm bẩm. “Chúng ta nâng ly chứ?”
“Vâng. Chúc mừng gì đây?”
“Chúc mừng vì chúng ta đã mắc câu được con cá rồi.”
Họ buông tay nhau và cụng nhẹ ly. Một tiếng lanh canh vang lên.
“Này, Theo? Thật ra tôi không thích chanh lắm đâu đấy.”
“Không à?”, Anh nhíu mày. “Nhưng lúc nào có nhiều hương vị, cô cũng chọn chanh mà?”
“Chỉ là… Hương vị đầu tiên tôi cảm nhận được là chanh. Nó dễ cảm nhận.”
“Có vị nào dễ cảm nhận sao…? Vậy thì chanh thật sự dễ…”, Anh lẩm bẩm, nhấp một ngụm rượu vang, mùi thơm đậm đà lan tỏa quanh mũi.
Eleven cũng uống một ngụm soda chanh.
“Anh biết cơ chế vị giác rồi đúng không?”
“Các chất hóa học được các gai vị giác cảm nhận rồi não xử lý thành vị.”
“Trước đây, bất cứ xử lý nào cũng chỉ dừng lại ở mức phân tích thành phần trong miệng, không xác định thành hương vị. Phân biệt chất rắn hay lỏng, phát hiện độc tố là đủ rồi.”
“Vậy ra trước đây cô thật sự cần làm vậy sao?”
“Ừm, một sinh vật sống không thể nhai đinh. Và nó sẽ chết nếu uống phải chất độc, đúng không? Phân tích là cần thiết.”
Một vũ khí bất tử giả dạng con người đúng là còn phức tạp hơn Theo nghĩ. Anh gật đầu mà vẫn chưa hiểu hết, Eleven tiếp lời, có phần bất lực.
“Miệng của sinh vật sống phức tạp quá, dù chỉ cần biết cái gì nguy hiểm là đủ rồi.”
“Không, thế thì quá chung chung.”, Anh lắc đầu. “Vậy các cô không biết vị cay sao?”
“Nó là cảm giác đau mà, nên chắc là không”, cô cười ngây thơ, rất giống một thiếu nữ ở lứa tuổi đó.
“Nhưng em chắc là mình phân biệt được vị cay của ớt cayenne với cay của bạc hà. Bọn em nhận biết được nhiệt độ.”
Theo bỗng nhớ lại cảnh cô ở nhà.
“Vậy đó là lý do em nấu bữa tối nhưng chẳng bao giờ ăn sao? Vì em không phân biệt được mùi vị à?”
“Hee-hee!”, Cô khúc khích thích thú.
“Vậy ra đó là lý do anh luôn làm mặt lạ lùng mỗi bữa à? Không phải vậy đâu. Tôi chỉ tuân theo nguyên tắc không lãng phí. Tôi chỉ nấu khi anh mệt tới mức sẽ đi ngủ mà không ăn gì thôi mà.”
“Vậy mà không tính là lãng phí sao?”
“Bữa ăn là nguồn năng lượng của con người mà, hiểu chưa? Nhu cầu của anh không phải lãng phí.”
Cuộc trò chuyện này, chẳng liên quan gì đến giới thượng lưu hay người giàu có, đã giúp bộ não căng thẳng của anh được nghỉ ngơi. Khi anh thấy trung tướng và phu nhân đang bước về phía họ, anh lập tức đứng dậy.
Eleven cũng đứng lên, và một phục vụ gần đó nhanh tay dọn luôn ly trống của họ. Khi anh ta bước đi, má anh ta đỏ bừng trước nụ cười cảm ơn của Eleven.
Phu nhân trung tướng, Liddy, khúc khích: “Mọi ánh mắt đều dõi theo cháu, nhỉ, Alouette? Dù chúng ta không sắp xếp được thì cái thư mời cháu muốn chắc cũng sẽ tự tìm tới cháu thôi.”
“Có thông tin gì không trung tướng?”, Theo hỏi, và sau ánh nhìn của Liddy, Trung tướng Cormolone lên tiếng.
“Chúng tôi tìm được một kẻ muốn tham gia salon. Thằng con trai ngốc của một người bạn. Nó tưởng cứ vào salon là đời sẽ lên hương nên tìm cách lẻn vào. Kết quả là bị đuổi ra trong nháy mắt.”
“Xin lỗi cho người bạn của ngài, nhưng tôi rất cảm kích vì thông tin này”, Theo nói chân thành, Cormolone khịt mũi cười rồi nói tiếp.
“Cái thư mời đúng là điều bắt buộc để vào salon. Nhưng nghe đâu chỉ có mấy tay chóp bu mới phát thư mời được. Tuyệt đối không phải nơi hành khách có thể tự do ra vào. Chỉ những kẻ được thông qua nhất trí trong cuộc họp hội đồng mới được mời.”
“Vậy không phải trò một người tự tung tự tác rồi.”, Theo cau mày. “Tôi cũng bất ngờ.”
“Tôi cũng vậy. Chưa rõ những kẻ khác là ai, nhưng tốt nhất nên giả định rằng bọn chúng đông hơn chúng ta tưởng.”, Gương mặt Cormolone trở nên cứng rắn.
Theo kín đáo đảo mắt nhìn quanh sảnh. Bao nhiêu kẻ trong số này thuộc Jikunokagu? Nhưng mới liếc qua, anh đã chạm ánh mắt Camicia, nên lập tức kéo Eleven ra phía sau.
Cô ngước nhìn trung tướng. “Cháu nghĩ chúng ta sẽ có được thư mời.”
“Tiết kiệm công sức cho chúng tôi rồi”, Liddy cười. “Chúng tôi sẽ trở lại nhiệm vụ ban đầu, nhưng nếu cần gì cứ liên lạc.”
Eleven lùi chân trái lại, khẽ cúi người, còn Theo thì cúi đầu nghiêm túc.
“Xin lỗi vì đã làm phiền hai người”, anh nói. “Chúng tôi vô cùng biết ơn sự giúp đỡ này.”
“Vì cô gái quý giá của Guin thì chuyện gì cũng được. Giờ thì làm cho tốt vào.”
“Chúng tôi sẽ dốc toàn lực”, Theo đáp, Cormolone gật đầu rồi khoác tay vợ, rời đi.
Theo thở ra hơi anh đã kìm nén, đứng thẳng lên và nhìn Eleven. Đôi mắt xám của cô nhìn anh đầy bất an.
“Giờ Camicia đã rõ ràng nhắm vào chúng ta, thật nguy hiểm nếu còn đi chất vấn người khác”, cô nói.
“Cứ chờ xem tình hình thế nào đã”, Theo đáp. “Dù sao thì chúng ta rời khỏi đây cùng nhau vẫn ổn.”
Eleven gật đầu rồi đột ngột đi về phía bức tường. Theo lập tức bước cạnh cô khi cô đan tay ra sau lưng.
Thay vì cửa sổ, các bức tường của đại sảnh được trang trí bằng những bức tranh và tượng lớn, điểm xuyết các vật trang hoàng lộng lẫy. Với cấu trúc thông tầng hai tầng, sảnh rộng đến mức khó tin nó nằm trong một con tàu.
Eleven dừng trước một bức tranh về con tàu Havmonet trên biển, Theo lặng lẽ đứng cạnh cô. Khi anh nhìn vào khung tranh, anh vòng tay ôm vai cô và giật mình khi thấy Camicia phản chiếu trong khung, vẫn nhìn chằm chằm họ.
“Hắn còn định nhìn bao lâu nữa?”, anh thì thầm.
“Hắn thận trọng bất ngờ đấy chứ?”, cô thì thầm lại. “Cậu của tôi, trung tướng, có nói bọn họ họp bàn để chọn người mời vào salon, nên có lẽ ta cần thứ gì rõ ràng hơn để chốt hạ.”
“Thứ gì chẳng hạn?”
“Ví dụ như cho hắn thấy lý do rõ ràng khiến cô không thể nào hài lòng với tay chân nhân tạo. Đó chính là piano, đúng không?”
Trên tàu chỉ có vài nơi có piano. Theo đang rà soát sơ đồ các khu vực trong đầu thì phản chiếu trong khung lại hiện lên bóng Tobias.
Giữ vai trò một bồi bàn thân thiện, anh ta cúi chào chỉnh tề.
“Ánh mắt hắn khiếp thật. Xem ra bước một đã thành công?”
“Có vẻ vậy”, Theo đáp. “Bọn chúng quyết định thư mời salon trong cuộc họp hội đồng. Chúng tôi tính quăng mồi, nhưng vẫn phải quan sát tiếp.”
“Ồ.”, Tobias nhướn mày. “Lạ ghê, nhóm kiểu này mà không bị một người nắm đầu.”
“Còn anh thì sao?”, Theo hỏi. “Có thu thập được gì không?”
“Nhiều ca trực quá, nên trắng tay. Tôi sẽ túc trực sau bữa tiệc, lo mấy chuyện của hành khách, cabin. Có lẽ phải sau bữa tối tôi mới xuống kho được. Ổn không?”
Theo chẳng thể trách anh ta. Vì Tobias đóng giả làm thủy thủ, việc này là bất khả kháng.
“Ổn thôi”, Theo nói ngắn gọn. “Nhưng anh có thể bám đuôi Camicia khi chúng tôi rời sảnh không? Dù chỉ một hai phút?”
“Khoản đó thì được. Khi khiêu vũ bắt đầu thì hai người nên tranh thủ đi. Không còn gì trước bữa tối đâu, mà khối hành khách cũng sẽ lỉnh ra ngoài. Muốn uống thêm ly nữa không?”
“Không, cảm ơn.”
Họ giữ cho cuộc trao đổi ngắn gọn để tránh bị nghi ngờ. Tobias quay lại vai bồi bàn của mình, còn Theo thì nới lỏng cà vạt khi nhìn anh ta rời đi.
“…Vậy thì, chúng ta nên rời đi trước khi lại có thêm mấy quý ông quý bà nào đó đến tra khảo xem chúng ta có đủ văn hoá hay không?”, Theo hỏi Eleven.
“Trời ơi!”, cô thốt lên. “Chúng ta ít nhất cũng nên khiêu vũ một bài chứ.”
“Khiêu vũ… Gì cơ? Tôi với cô á?”, Anh ngạc nhiên nhìn xuống. Eleven đang cười tinh quái với anh.
Các cặp đôi bắt đầu tiến ra giữa sảnh, và anh nghe thấy dàn nhạc đang chỉnh nhạc cụ. Tiết mục khiêu vũ sắp bắt đầu.
“Khoan đã”, anh phản đối. “Cô có dạy tôi nhảy đâu.”
“Tôi sẽ dẫn anh. Không sao đâu”, cô trấn an. “Dù gì thì chắc đây cũng là lần đầu tiên và cuối cùng chúng ta khiêu vũ cùng nhau.”
“Và tôi phải ra mắt cái điệu nhảy vụng về của mình ngay tại một buổi tiệc thượng lưu á?”, Anh lắc đầu quầy quậy. “Tôi không làm được đâu. Đừng ép tôi.”
“Thật tuyệt vời khi chúng ta cùng là những người lần đầu ra mắt! Nhảy đi. Chỉ một bài thôi.”
Những ngón tay đeo găng vươn về phía tay anh. Anh không thể nào gạt bỏ được cái chạm ngọt ngào mà cứng rắn ấy, nên đành để cô kéo anh hoà vào nhóm các cặp đôi đang nhảy.
Hai người đứng đối diện nhau. Cô hơi ngượng ngùng, vẻ mặt rạng rỡ, mái tóc được búi gọn gàng, mi mắt cong cong, lông mi cong vút, đôi mắt xám ánh lên niềm vui. Ngược lại, vẻ mặt anh thì nặng nề, căng thẳng.
Anh đã từng đứng trước mặt Eleven biết bao lần, nhưng chưa bao giờ anh cảm thấy bất lực thế này.
“…T-tôi phải làm gì?”
“Trước tiên, cúi chào”, cô chỉ dẫn. “Rồi anh nắm tay tôi bằng tay trái, đặt tay phải lên eo tôi.”
Âm thanh du dương của bản nhạc ba nhịp vang lên. Hoà cùng các quý cô khác, Eleven lùi chân trái, nhẹ nhàng nâng váy bằng cả hai tay và thực hiện một cú nhún người duyên dáng. Theo lo lắng cúi đầu, rồi đưa tay ra. Anh đặt tay trái lên bàn tay nhỏ nhắn của cô và đỡ lấy eo mảnh mai bằng tay phải như cô đã bảo, trong khi cô đặt một tay nhẹ lên ngực anh. Khi cô ngẩng mặt lên, khoảng cách giữa họ gần như chạm nhau, tựa như đang ôm. Đôi mắt cô ánh lên vẻ ngây thơ rạng rỡ, như mặt hồ phản chiếu bầu trời mùa đông.
Bỏ ngoài tai tiếng thở hổn hển đầy bất ngờ của Theo, khúc valse bắt đầu, các cặp đôi xung quanh di chuyển những bước nhảy điêu luyện. Nhưng Eleven chỉ đung đưa nhẹ từ bên này sang bên kia, như đang trêu anh.
“Thả lỏng ra, Theo”, cô nói. “Nó phải vui vẻ mà.”
“Không. Tôi không thể. Có quá nhiều người nhìn.”, Mắt anh đảo quanh đầy lo lắng. “Họ nhìn gì vậy? Tôi sẽ đuổi hết ra ngoài nếu cần.”
“Thật bạo lực.”, Cô khúc khích cười. “Hắn ta vẫn đang quan sát chúng ta chứ?”
Theo đảo mắt quanh đám đông. Và đúng như anh sợ, Camicia đang tựa vào cột và nhìn chằm chằm họ đầy hứng thú.
“Hắn nhìn cái gì vậy?”, Theo gầm gừ. “Chúng ta đâu có diễn kịch ở đây.”
“Đừng doạ người khác. Anh chỉ cần lặp lại các bước cơ bản thôi, nó sẽ thành hình mẫu. Anh sẽ ổn thôi.”
Anh cảm nhận được ánh mắt ấm áp của những người đang bảo vệ mình từ quanh đây, và anh suýt nữa đã chạy ra khỏi phòng. Máu dồn lên đầu, anh cố gắng tập trung vào giọng Eleven và mũi giày đen của cô.
“Một, hai, ba. Một, hai, ba. Bước phải, bước trái.”
“Khoan, khoan”, anh cuống lên. “Đừng đi tới đi lui. Chỉ bước phải trái như cô nói thôi.”
“Hãy theo nhịp điệu. Thả mình theo dòng chảy. Gót chân nâng nhẹ lên. Hí hí! Anh làm tốt lắm!”
Động tác chân thì đơn giản, nhưng Eleven đẩy và kéo tay, cùi chỏ anh, xoay người và đổi hướng bước, nhờ thế anh mới vừa vặn giữ được nhịp.
Mình nghe nói dẫn dắt là điều quan trọng trong khiêu vũ đôi. Thì ra là vậy, anh nghĩ, mắt dán chặt vào mũi giày cô.
“Theo?”, cô hỏi nhỏ. “Đừng nhìn xuống sàn mãi thế. Anh đang nhảy với giày tôi đấy à?”
“Chỉ là… Nếu không tập trung, tôi sẽ giẫm lên chân cô.”
“Tôi chẳng cảm nhận được đâu nếu anh có giẫm. Điều quan trọng là phải nhìn vào người đang nhảy cùng.”
Giọng cô như dỗi nhẹ, khiến anh theo phản xạ ngẩng mặt lên. Khi ánh mắt họ chạm nhau, cô mỉm cười dịu dàng. Anh đã quen với vẻ mặt vô cảm thường ngày của cô, nên nụ cười gần gũi này khiến tim anh như ngừng đập.
“Nào, anh mặc quân phục trang trọng đấy. Anh sẽ trông đẹp hơn khi đứng thẳng”, cô nhẹ nhàng trách. “Và anh sẽ trông như một vũ công giỏi hơn nếu tự tin lên.”
“Cảm ơn. Tôi sẽ ghi nhớ cho lần sau.”
“Sẽ tốt biết bao nếu có lần sau nhỉ.”
“Gì cơ?”, Theo bật ra một cách ngơ ngác, không bỏ qua được câu nói ấy, và Eleven bật cười như chuông ngân.
Khi anh còn đang sững sờ trước vẻ vô tư của cô, cô rút tay trái ra, xoay một vòng quanh tay phải đang nắm tay anh, dải ruy băng và tà váy xếp ly tung bay xung quanh. Những cô gái khác cũng xoay người, váy áo muôn màu bung nở khắp sảnh, nhìn từ trên cao như những bông hoa đang nở rộ.
Chóng mặt. Thế giới xung quanh như trắng xoá, chỉ còn nụ cười của Eleven giữ anh lại. Anh chẳng thể thốt nên lời.
Cô nhất định sẽ thu hút mọi ánh nhìn. Cô không chỉ xinh đẹp hay tao nhã. Nụ cười ấy hoàn hảo, vô phòng bị, là nụ cười được nhào nặn từ sự am hiểu tường tận phản ứng của con người trước từng biểu cảm, từng cử động.
Cô gái ấy nhẹ nhàng trở lại trong vòng tay anh, và anh phải thừa nhận mình đã bị mê hoặc.
Anh định mở miệng thì cô lại tựa hẳn người ra sau, khiến mắt anh mở to kinh ngạc. Anh vội vàng đỡ lấy cô, và ngay khi anh còn lúng túng
“Này. Ê”, cô đã tự nâng mình dậy đúng nhịp với khúc nhạc sôi động. Mượn đà, cô xoay người rồi kéo tay anh theo.
“Này!”, anh kêu lên. “Cái gì thế này?! Ê!”
Eleven chỉ cười hạnh phúc, còn Theo thì bị cô xoay vòng vòng. Một lần nữa, cô xoay váy rồi trở về vòng tay anh. Anh ôm cô lại, chặn cô lao vào ngực mình, rồi mới thở phào. Anh nghe thấy tiếng cười khúc khích ngay gần ngực.
“Đó là động tác rất phổ biến mà”, cô nói với vẻ ngây thơ giả tạo. “Không ổn sao?”
“Đừng ứng biến với người mới học mấy bước cơ bản như tôi”, anh yếu ớt đáp.
Cô áp má lên ngực anh, cả hai chỉ đơn giản đung đưa từ bên này sang bên kia. Khi anh đủ bình tĩnh để quan sát các cặp đôi khác, anh thấy nhiều đôi cũng đang áp sát vào nhau và đung đưa như họ. Anh cứ tưởng mấy động tác xoay kéo vừa rồi chỉ là Eleven bày trò, hoá ra đó chính là cao trào của bài hát và điệu nhảy.
“…Cô biết bài này à?”, anh hỏi.
“Những buổi tiệc như thế này thường có sẵn một danh sách bài hát định sẵn. Tôi chỉ cần nhìn người ta vào vị trí là biết cách theo kịp nhịp ngay.”

“Nghe cô nói cứ như dễ lắm vậy…”
“Với tôi thì dễ thật mà.”
Trong lúc họ đang ôm nhau thế này, nhìn vào mắt người ngoài thì hệt như một cặp tình nhân thật sự. Và đúng là cả hai cũng đang cố diễn sao cho ai nhìn vào cũng nghĩ vậy. Thế nhưng trong lòng Theo lại dâng lên cảm giác tội lỗi. Cô ấy vốn không phải là loại sinh vật nên nhảy nhót ở chỗ như thế này. Nhưng không có cô, cậu sẽ chẳng bao giờ bắt được con cá mà mình đang câu.
Theo nắm lấy bàn tay Eleven đang đặt trên ngực mình.
“Cô lúc nào cũng giúp tôi. Lúc nào cũng vậy.”
“Bỗng dưng nói gì lạ vậy?”, Cô ngước mắt nhìn cậu, ngạc nhiên.
“Tôi càng lúc càng cảm nhận rõ rệt là mình còn non lắm”, anh thành thật thú nhận.
Cô không cười, chỉ siết chặt tay cậu rồi lặng lẽ dựa sát hơn vào anh.
“Điều tôi mong muốn nhất chính là được có ích cho anh.”
“Ngay cả mấy chuyện như thế này?”
“Với bất cứ chuyện gì.”
Eleven khẽ lùi ra, chỉ còn hai bàn tay vẫn đan vào nhau khi bản nhạc kết thúc. Trong tiếng vỗ tay của những người xung quanh, họ cúi chào cùng với các cặp đôi khác.
Khi Eleven ngẩng đầu lên, ánh mắt họ chạm nhau, khiến Theo hơi bất ngờ mà tiến lại gần hơn. Anh đưa tay vuốt mấy lọn tóc lòa xòa của cô. Trán cô lấm tấm mồ hôi, hơi thở cũng có chút gấp gáp.
“Cô ổn chứ?”, anh hỏi.
“Ổn mà. Nhưng tôi đổ mồ hôi nhiều quá, ngại ghê.”, Cô cười ngượng rồi lấy tay quạt quạt mặt.
Những người xung quanh nhìn họ, chẳng ai che giấu nụ cười dịu dàng cả. Ai nhìn vào cũng thấy cô bé này thuộc tuýp người dễ mệt vì chuyện xã giao, nên rời buổi tiệc sau một điệu nhảy là chuyện bình thường.
Theo nhường chỗ cho cặp đôi khác rồi dẫn Eleven đi về phía lối ra.
“Nghỉ ngơi chút nhé?”
“Không sao đâu.”, Cô lắc đầu. “Nhưng tôi hơi lo cho lớp trang điểm. Tôi đi chỉnh lại một chút được không?”
“Dĩ nhiên rồi. Đi thôi.”
Họ rời khỏi sảnh tiệc, Theo tiễn Eleven đến tận cửa phòng vệ sinh nữ rồi tựa lưng vào tường hành lang chờ cô. Bộ đàm trong tai cậu đột nhiên lách tách lên tiếng.
“Đây là Tobias. Mục tiêu đã ra ngoài. Đang bám theo.”
“Rõ. Tôi sẽ xác nhận”, anh đáp ngắn gọn rồi đảo mắt quan sát, tiện tay vuốt tóc che bớt gương mặt. Camicia đang cười nói vui vẻ với vài hành khách khác gần lối vào sảnh tiệc.
Con cá vẫn còn đang mắc câu.
Theo càng chắc chắn Camicia sớm muộn cũng sẽ tiếp cận Eleven.
Khi cô gái quay lại, mái tóc cô buông sang một bên vai trái, trông mềm mại tự nhiên hơn hẳn. Chỉ một thay đổi nhỏ mà không khí quanh cô đã khác hẳn. Đúng là mái tóc thật kỳ diệu.
“Xin lỗi đã để anh chờ lâu”, cô nói. “Vẫn còn thời gian trước bữa tối mà. Anh muốn làm gì?”
“Hay ra quầy bar ngồi uống gì đó nhé? Nghe nói có ban nhạc jazz biểu diễn.”
“Ban nhạc jazz!”, Cô vỗ tay thích thú. “Thích quá! Đi thôi!”
Cả hai không nói quá to nhưng đủ để những người xung quanh nghe thấy. Giọng Eleven đầy phấn khích vang xa, ai ở gần cũng dễ dàng để ý. Theo thầm khen Eleven vì đã hiểu ý cậu mà chẳng cần anh phải giải thích. Sau đó anh nắm tay cô và bước về phía quầy bar. Đúng như dự đoán, Camicia cũng bắt đầu di chuyển.
“Chúng ta biết chắc bọn chúng làm ăn ngay trên tàu này”, Theo nói. “Nhưng không rõ bọn chúng có đem cả hàng lên tàu không.”
“Nếu đã biểu diễn chào hàng ngay trong salon, thì chắc chắn có đem theo”, Eleven đáp. “Nhưng tôi phải ở trong phạm vi tầm hai khoang khách thì mới phát hiện ra được. Chúng nhỏ lắm.”
“Nói cách khác, cô có thể dò từ tầng trên.”, Theo gật đầu, rồi một chuyện khác lóe lên trong đầu anh. “Vậy cô nghĩ thứ mà chúng ta đang truy đuổi là thứ có kích thước khá lớn à?”
“Không nhất thiết. Cảm biến của bọn tôi dùng để thu hồi các đơn vị bị phá hủy trên chiến trường. Bọn tôi được thiết kế để bắt chước địa hình xung quanh khi bị phá hủy để kẻ địch không thu hồi được. Nghĩa là không có máy dò thì chẳng ai tìm ra được.”
Con Hound duy nhất Theo từng biết chính là Eleven, và anh đã tận mắt chứng kiến khả năng ngụy trang tuyệt vời của cô. Nếu Amalgam kia có ngụy trang tốt được một nửa như vậy, ví dụ ngụy trang thành đất cát, thì anh có đào nát cả bãi cát cũng chẳng tìm ra lõi.
Anh hạ thấp giọng để những hành khách lướt qua không nghe thấy.
“Tạm gác chuyện thân thể chính của Amalgam sang một bên… Vậy chúng sản xuất lõi chất lượng thấp kiểu gì? Có quy trình cố định không?”
“Tôi có hai giả thuyết.”, Eleven nghiêng người sát hơn và thì thầm,
“Cả Roremclad lẫn Jikunokagu đều dùng lõi nhỏ. Roremclad tách lõi ra, các Amalgam vẫn có đầy đủ chức năng cơ bản, chỉ là công suất yếu nên phải bổ sung từ con mồi. Nhưng Jikunokagu thì khác. Chúng cố tình loại bỏ chức năng tái sinh.”
“Mà đó lại là điểm bán chạy nhất. Thật khó hiểu khi chúng cắt bỏ… Ối!”
Theo chộp lấy vai Eleven kéo cô tránh một nhóm hành khách đang chen chúc chạy xuống cầu thang. Trong lúc đó, cậu liếc mắt đã thấy Camicia vẫn đang trao đổi danh thiếp với ai đó ở hành lang. Rõ ràng Camicia vẫn bám sát họ từ xa.
Eleven khều vai Theo.
“Đi rồi kìa.”
“Ơ, à! Xin lỗi…”, Anh buông cô ra.
Cô vuốt lại mái tóc rối, phụng phịu phồng má. “Anh lo xa quá rồi đấy.”
“Khó mà điều chỉnh cho vừa phải được. Quay lại chuyện giả thuyết đi?”
Cô lồng tay vào khuỷu tay cậu rồi nói nhỏ.
“Một: giống Roremclad, chúng tách lõi ra, nhưng có vấn đề, có thể lõi gốc yếu đi, mất khả năng tái sinh. Hai: Chúng viết đè lên lõi chính, chuyển từ chức năng tái sinh sang chức năng sinh sản lõi. Như vậy sẽ cho ra hàng loạt lõi chất lượng thấp, nhưng lõi gốc thì không suy giảm công suất.”
Theo suýt khựng bước, rồi cố bước tiếp lên cầu thang.
“Hai khả năng này khác nhau một trời một vực về độ nguy hiểm đấy.”
“Đúng vậy.”, Eleven gật đầu. “Nếu cứ tách lõi thì lõi gốc sẽ yếu dần, giống Nina lần trước. Nhưng nếu công suất không thay đổi, nó sẽ là một mối đe dọa nghiêm trọng.”
“Ra vậy. Vậy thì cần điều tra kỹ hơn. Vừa điều tra vừa nghỉ ngơi ở quầy bar vậy.”
Lên đến đỉnh cầu thang, họ có thể nhìn thấy sảnh lớn bên dưới. Hai người quay lưng lại và đi vào khu vực nhà hàng. Bỏ qua nhóm hành khách đang bàn tán chọn chỗ ăn tối, họ bước vào quán bar treo bảng hiệu MEESA. Số người ngồi uống nhanh trước bữa tối khá đông, còn cuối phòng, ánh đèn sân khấu nhỏ rọi sáng ban nhạc jazz.
“Sao anh lại chọn quán jazz bar?”, Eleven hỏi Theo.
“Vì tôi chẳng nghĩ ra chỗ nào có đàn piano cả.”
Họ ngồi xuống bàn ở góc phòng, nhân viên phục vụ nhanh chóng mang đồ uống tới. Khi cả hai đã có ly trong tay, Theo nghiêng đầu sang Eleven.
“Có tiền lệ Amalgam tự tạo lõi không?”, anh hỏi.
“Có một cá thể từng tạo ra bản sao lỗi để tạm thời lập một đội quân khi nó đang bất động. Nó dùng nhiều bản sao làm mồi nhử để câu giờ cho đến khi quá trình sao chép hoàn tất.”
“Nếu mục đích chỉ để câu giờ thì bản sao kém chất lượng cũng đủ rồi.”
“Đúng vậy”, Eleven đáp đều đều, chống cằm lên tay, “Có thể sản xuất nhiều lõi chất lượng thấp trong thời gian ngắn.”
Theo tò mò hỏi tiếp, “Vậy có thể bị ép buộc phải sản xuất lõi không? Sao cô nghĩ lõi bị viết đè?”
“Tôi giả định dựa trên hư hại trong quá trình và mục tiêu của Jikunokagu.”, Eleven nhấc ly sangria lên, mỉm cười.
“Họ chỉ cần tiền và một sản phẩm siêu lợi nhuận. Không cần Amalgam mạnh như vũ khí, họ chỉ muốn một nhà máy không biết mệt. Việc đầu tiên họ làm là cắt chức năng tái sinh, vì nó đòi hỏi quy trình phức tạp, rồi thay bằng chức năng sinh sản mạnh. Do không đủ chuyên môn, họ chỉ vẽ bậy lên lõi, vô tình làm mất luôn khả năng tự hồi phục. Đại khái là thế.”
“Vậy ta cứ phá huỷ ngay khi tìm thấy chúng là được. Nhưng lõi… quy trình… đâu phải ai cũng làm được, đúng không?”, Theo hỏi thẳng rồi nhấp một ngụm cocktail.
“Với tôi nó chỉ giống mấy hình vẽ nguệch ngoạc, chứ chẳng đọc nổi chữ nào.”
Eleven khúc khích.
“Đó là ngôn ngữ đặc biệt, được tạo ra để người thường không hiểu nổi mà. Nó tên là Promethogia. Họ sáng tạo ra nó hàng ngàn năm trước để chuyên xử lý ma thuật.”
“Vậy tất cả pháp sư đều biết à?”
“Không, chỉ số ít thôi. Chỉ những chuyên gia thật sự cần, người đủ kỹ năng tạo ra pháp cụ hay vòng ma thuật, hoặc các học giả nghiên cứu lịch sử hắc ma thuật và vũ khí ma thuật. Ngay cả nhóm nghiên cứu Hound, cũng chỉ các nhà nghiên cứu chính mới dùng Promethogia được. Tôi là thế hệ Hound sau này nên biết đọc viết, còn mấy số trước tôi thì không.”
“Ít người biết thế à…”, Chỉ qua lời giải thích đơn giản này, Theo đã cảm nhận được Promethogia khó cỡ nào. Anh lại nghĩ ra một câu hỏi.
“Camicia có tay nào giỏi cỡ đó không? Hay hắn tự biết Promethogia?”
“Tôi cũng tò mò.”, Eleven nghiêng đầu.
“Ngay cả khi hắn biết Promethogia, hắn không biết cách dựng quy trình, và việc loại bỏ chức năng tái sinh đồng nghĩa với coi Amalgam như hàng dùng một lần. Tất cả đều rất hời hợt. Nếu hắn thực sự có ‘bộ não to nào đó’ như anh nói, chẳng phải hắn đã tận dụng Amalgam tốt hơn rồi sao?”
“Cũng có thể hắn ưu tiên xóa dấu vết… Nhưng nếu thực sự có chuyên gia kỹ thuật cỡ đó, Emma có thể lần ra hắn.”, Theo nhắn tin cho Emma về Promethogia rồi nhét điện thoại vào túi.
“Câu hỏi còn lại là hắn lấy Amalgam ở đâu. Chúng ta giả định Camicia viết đè quy trình, nhưng hắn có thể chỉnh lõi chỉ bằng cách chạm vào sao?”
“Mặc dù còn nhiều điều kiện chi tiết, nhưng chạm vào là yêu cầu tối thiểu để can thiệp lõi. Hắn khó mà tiếp cận được cơ sở nghiên cứu, nên có lẽ đã thu thập lõi từ một Amalgam bị phá hủy trên chiến trường.”
“Nếu hắn từng làm lính hay chuyên gia liên quan, thì ta đã tìm ra hắn qua cơ sở dữ liệu rồi”, Theo nhận xét.
“Vậy chắc hắn có lý do khác để xuất hiện ở vùng chiến. Nhân viên y tế, phóng viên, nhiếp ảnh gia… Nếu tính cả tình nguyện viên thì đông quá, nhưng Emma có lẽ sẽ thu hẹp được.”
Ngay lúc đó, tin nhắn từ Emma đến, chỉ vỏn vẹn một dòng hỏi cậu có thể nói chuyện điện thoại được không. Vừa đọc xong thì điện thoại đã đổ chuông.
“Là tôi đây. Xin lỗi nhé. Giờ nói được không?”
“Được. Chuyện gì vậy?”
“Gõ tin nhắn lâu quá, nên tôi muốn gọi hỏi cho nhanh. Cậu có ý gì để xác định Camicia là ai hả?”
“Ừ. Khoan. Chuyên gia nên nói trước. Xin mời.”, Theo đưa điện thoại cho Eleven rồi uống tiếp cocktail.
Eleven gật đầu nhận máy.
“Tôi muốn cô đối chiếu giùm một việc. Có thể lập danh sách tất cả những người được Hiệp hội Pháp sư cấp quyền truy cập Promethogia không? Và xem ai từng có mặt ở vùng chiến dữ dội, nơi dùng Amalgam? …Không, khả năng cao không phải là học giả Promethogia chính thức, mà là người từng tiếp xúc hoặc có cơ hội biết về nghiên cứu của họ.”
Eleven nói xong rồi chuẩn bị cúp máy, nhưng có vẻ Emma nói gì đó khiến cô dừng lại, áp máy sát tai hơn.
“Bên này không có vấn đề gì… Tôi hiểu. Tôi sẽ truyền đạt lại.”
“Cô ấy nói gì thế?”, Theo hỏi.
“Cô ấy muốn chúng ta chụp một tấm ảnh cùng nhau.”, Eleven trả máy lại cho Theo.
“Cô ấy đúng là có sở thích lạ thật…”
Anh thở dài. Nhưng xem ra cô ấy cũng đang nỗ lực điều tra vụ án, và anh cảm thấy chỉ một tấm ảnh thì chắc cũng không sao. Anh vừa định ngẩng đầu nói vậy thì bỗng khựng lại.
Camicia cùng mấy người bạn của hắn bước vào quán bar, làm cái chuông treo trên cửa rung lên leng keng. Lúc nào không hay quán đã đầy khách, nên họ được dẫn đến ngồi ở quầy. Trên sân khấu, ban nhạc đang chuẩn bị cho buổi diễn.
“Bọn họ đợi ở ngoài khá lâu nhỉ?”, Theo nhận xét.
“Họ chắc nghĩ chúng ta sẽ rời đi bất ngờ.”, Eleven đáp.
Anh muốn tránh gây chú ý. Anh gọi thêm một ly cocktail với người phục vụ đang đi vòng quanh. Khi đồ uống được mang ra, anh thấy Eleven đang nhìn mình chăm chú đầy tò mò.
“Ngạc nhiên à?”, anh hỏi.
“Một chút”, cô đáp. “Bình thường anh chỉ uống bia, nhưng lại không gọi bia ở bar sao?”
“Nếu đã ra ngoài, thì tôi muốn uống thứ mà ở nhà không pha được. Pha cocktail ở nhà phiền lắm.”
Cô bật cười, nhưng điều đó lại khiến anh hơi bồn chồn. Anh hắng giọng: “Ý tôi là, hắn ta có được Amalgam thật sự, vậy mà chỉ dùng nó để đi lừa đảo vặt. Thật nhỏ mọn. Những lõi sản xuất hàng loạt cũng hoạt động yếu. Chưa kể việc sản xuất Amalgam hàng loạt rồi bỏ mặc chúng… Tôi không hiểu nổi.”
“Đúng vậy. Nếu thật sự muốn dùng một lần rồi bỏ, thì hắn chỉ cần ra lệnh cho Amalgam dừng hoạt động khi hoàn thành nhiệm vụ. Sao lại phải ra lệnh cho chúng quay về?”
Eleven nêu đúng trọng tâm.
“Chúng ta đã thu hồi được con ở bờ biển, nhưng…”, Anh cau mày. “Khoan đã. Nếu cứ bỏ mặc thì sao nhỉ?”
“Cũng như Roremclad, lõi sẽ bị đập vỡ, cơ thể biến thành đất, rồi trở về tự nhiên.”
“Nhưng nếu ở trong nhà, một đống đất không có cây mọc lên thì sẽ rất kỳ. Ai cũng sẽ nghi ngờ. Hắn có lẽ đã ra lệnh như vậy để chúng cạn năng lượng ở một chỗ ngẫu nhiên sau khi xong việc, thay vì tự hủy ngay tại hiện trường. Giống như quăng hung khí đi thật xa hiện trường vậy.”
“Với cả hắn hay ra nước ngoài công tác”, Eleven nói thêm. “Để Amalgam không dễ quay lại chỗ hắn.”
Theo thở ra một hơi ngắn. Mẫu vật tìm được ở bờ biển đã được gửi tới phòng thí nghiệm. Nhưng nếu không phát hiện ra, có lẽ nó sẽ chỉ mục nát ở đó. Anh thấy hơi tội nghiệp cho nó, có lẽ do mình quá đa cảm.
“Nếu hắn quản lý kho ở Zabahlio, thì Amalgam chính chắc ở đó.”, Anh gợi ý.
“Thật ra, tôi nghĩ nó ở dưới biển.”
Theo nghiêng đầu, không hiểu cô muốn nói gì, thì cô đã bảo anh đưa sổ tay và bút.
Cô nhanh chóng vẽ một vòng tròn. Nét vẽ tròn trịa kỳ lạ như thể dùng compa. Sau đó cô bao vòng tròn ấy bằng một đường elip, cũng ngay ngắn không kém.
“Giả sử vòng tròn trong là lõi, còn elip là cơ thể vật lý”, cô bắt đầu giải thích. “Khi elip bị lõm do vết thương, các tế bào sẽ nhân lên nhanh chóng để lấp đầy chỗ lõm. Đó là cơ chế hồi phục.”
“Ừm.”, Anh gật đầu, mắt dán vào hình vẽ. “Hiểu rồi. Vậy thì không phải hồi phục, mà là nhân bản mới là then chốt.”
“Đúng vậy. Nhưng con Amalgam này lại tái tạo lõi bằng cách cắt bỏ chức năng hồi phục. Giả sử nó có nguồn năng lượng ban đầu, khi năng lượng đó cạn, nó sẽ xé một phần elip này ra làm lõi nhân bản để tiếp tục thực thi mệnh lệnh.”
Eleven vẽ thêm mấy vòng tròn nhỏ bên trong elip. Theo nhíu mày.
“Nhưng nó không thể hồi phục”, anh nói. “Nếu cứ tạo lõi hoài thì sớm muộn gì cũng xài hết cơ thể.”
“Chính xác. Khi đó lõi sẽ lộ ra. Đó là vấn đề.”, Cô gập sổ lại, trả sổ và bút cho anh. “Thông thường, Amalgam sẽ biến vật tiếp xúc với lõi thành cơ thể thịt để giấu lõi, tránh bị kẻ địch phát hiện, câu giờ để Hound đến thu hồi.”
“Nhưng con này sẽ không được phát hiện, và vết thương thì không thể hồi phục. Nó có thể ngụy trang được bao lâu?”
“Miễn là còn vật chất tiếp xúc với lõi.”
Anh chợt nhớ đến ý cô nói về đáy biển và đập tay lên trán.
“Đúng rồi. Nếu ở trên đất liền, địa hình xung quanh nó sẽ bị biến đổi, ai cũng phát hiện ra. Không thể giấu ở kho bãi, nơi người ta ra vào. Nhưng dưới đáy biển thì chẳng ai để ý.”
“Dù sao nó cũng không thể ‘uống cạn’ cả đại dương.”, Cô mỉm cười, uống cạn ly sangria. “Nó biến đổi vật chất xung quanh thành cơ thể để giấu lõi. Nhưng có cơ thể rồi thì nó lại nhân bản lõi, lõi lại lộ ra, lại tiếp tục biến đổi vật chất. Nếu nó cứ làm vậy dưới đáy biển, nó sẽ không thể di chuyển khỏi chỗ. Và nó có thể né được Hound quét dưới đáy biển sâu.”
“Nếu đúng vậy, thì tốt nhất là bọn Amalgam con quay về chỗ Amalgam mẹ sau khi xong nhiệm vụ, để tái sử dụng vật chất. Nhưng nếu Camicia cho lệnh như vậy, vị trí Amalgam mẹ sẽ bị lộ. Hắn cố ý di chuyển và ngăn Amalgam con quay về. Quả là tính toán khôn khéo.”
“Amalgam sẽ tiếp tục tạo lõi cho đến khi vật chất đáy biển cạn kiệt, đúng không? Nếu tìm được nó, ta chỉ việc tiêu diệt nó. Giá mà tàu khu trục bắt được trong đợt khảo sát đáy biển thì hay.”
Ánh mắt họ tự nhiên chuyển về phía Camicia. Hắn đang nói gì đó với bạn, trông vô cùng phấn khích.
Theo tặc lưỡi.
“Hắn đang vui như hội kia kìa. Chắc nhổ vài sợi tóc hắn cũng không để ý đâu.”
“Tôi cũng muốn mẫu DNA của hắn”, Eleven đồng ý. “Anh làm hắn chú ý một chút được không?”
“Chú ý? Cô tính nói chuyện với hắn?”
“Tôi muốn xem phản ứng của hắn khi tôi chơi piano. Có vẻ người chơi piano của ban nhạc vẫn chưa đến, nên họ đang khá rối.”, Eleven mỉm cười, liếc mắt về sân khấu.
Ban nhạc jazz đúng là đang chuẩn bị rất lâu. Họ trông có vẻ đang bàn bạc nghiêm túc.
“…Vậy thì cho tôi xem cô làm được gì nào?”, Theo nói.
“Anh cứ xem nhé.”
Eleven nhanh chóng đứng dậy, bước đến gần sân khấu. Cô trao đổi gì đó với bốn thành viên ban nhạc, Theo thì đứng dậy theo, đi đến gần hơn.
Khi đi ngang sau lưng Camicia đang ngồi ở quầy, anh tranh thủ nhổ một sợi tóc.
“Xin lỗi nhé, nút áo tôi vướng tí.”, Anh nói chống chế rồi tìm chỗ ngồi gần sân khấu. Anh cho sợi tóc vào phong bì, mắt vẫn dõi theo Eleven chuẩn bị, lòng không khỏi bồn chồn. Anh chẳng thể hình dung nổi cảnh cô chơi piano jazz.
Đây là thứ âm nhạc của những người phương Nam, thể hiện lòng tự tôn không khuất phục áp lực từ các quốc gia khác. Những giai điệu ngân nga chứa đựng niềm đam mê mãnh liệt. Một Eleven vốn luôn vô cảm thật sự có thể diễn tấu ra thứ âm nhạc rực rỡ như thế, chỉ bằng cách bắt chước tính cách một cô gái tươi vui sao?
Anh vẫn đang lo lắng thì ca sĩ bước ra micro, chào khán giả và giới thiệu Eleven như khách mời đặc biệt.
“Xin chào đón tiểu thư đáng yêu và tuyệt vời, Alouette.”
Nữ ca sĩ mỉm cười giơ tay về phía Eleven, và Eleven cúi đầu duyên dáng. Khán giả vỗ tay chào đón vị khách bất ngờ, ban nhạc cũng vào vị trí.
Buổi diễn bắt đầu bằng hiệu lệnh từ tay trống. Ban nhạc hòa nhịp chuẩn xác, làm nền cho giọng ca đầy nội lực. Theo ngồi lặng đi, mắt dán vào bóng lưng cô gái trẻ đang chơi piano, đôi găng tay opera trắng muốt che ngón tay đang lướt nhẹ trên phím ngà.
Phần đệm piano cho ca sĩ vừa tiết chế, vừa tươi tắn, uyển chuyển. Cô mỉm cười, bắt gặp ánh mắt các thành viên khác, ngón tay lướt nhanh trên phím đàn. Cô chính là hình ảnh một cô gái trẻ đang tận hưởng niềm vui âm nhạc. Dù có lẽ chưa từng nhìn thấy bản nhạc trước đó, cô vẫn làm cho piano cất tiếng hát, hòa quyện tuyệt vời với phần trình diễn đầy sức sống của ban nhạc. Cô duyên dáng và linh hoạt y như khi khiêu vũ ở đại sảnh lúc trước.
Theo bừng tỉnh khi quán bar nổ tung trong tràng pháo tay như sấm. Ban nhạc cúi chào. Ca sĩ cười tinh nghịch gửi Eleven một nụ hôn gió, và Eleven bật cười, trông có chút bối rối.
Cô chỉ là khách thay thế phút chót, vậy mà tiếng vỗ tay càng lúc càng lớn, tiếng yêu cầu hát thêm lan khắp phòng. Khi ban nhạc hỏi Eleven chơi thêm một bài, cô mỉm cười đồng ý.
Lần này là một khúc jazz nhẹ nhàng, trái ngược hoàn toàn bài trước. Bass và trống đặt nền vững chắc cho giọng hát dịu dàng, trong khi tiếng saxophone réo rắt dệt nên một tấm thảm âm thanh, còn piano thì như ánh sáng soi tỏ tất cả. Âm thanh hòa quyện với nhịp điệu chặt chẽ, piano không hề lấn lướt nhưng lại đầy cảm xúc. Những ngón tay bọc găng opera múa trên phím đen trắng. Dưới ánh đèn sân khấu, mái tóc bạch kim của Eleven ánh lên lấp lánh.
Theo lặng lẽ dõi theo cô, lưng thẳng tắp trước cây đàn lớn.
Mình vẫn còn nhiều thứ chưa biết về cô ấy.
Điều đó cũng dễ hiểu thôi. Họ mới quen nhau chưa lâu. Thế nhưng, sau khi từng xem cô như một món vũ khí, anh lại choáng ngợp trước những điều mới mẻ mình khám phá ra về cô trên chuyến du thuyền này. Cô đủ kiến thức để đứng ngang hàng với giới thượng lưu, và có thể sắp đặt gương mặt sao cho đạt hiệu quả tối đa với mục tiêu.
Bình thường cô vô cảm, vô biểu lộ. Cô khăng khăng nói rằng mình không có cảm xúc. Vậy mà cô có thể chơi piano theo cách tràn đầy cảm xúc thế này. Theo thật sự không hiểu nổi.
Những ngón tay cô dừng lơ lửng, nốt nhạc cuối cùng lắng lại trong im lặng. Sau khi dư âm ấy tan đi, khán phòng mới lại nổ ra những tràng pháo tay, reo hò. Ban nhạc cười nhận lời tán thưởng, nhưng Eleven vẫn chưa đứng dậy. Ca sĩ nói gì đó với cô, Eleven vội đứng lên, giấu bàn tay trái ra sau lưng rồi cúi chào khán giả, cúi chào ban nhạc. Cô và nữ ca sĩ trao đổi vài câu, nữ ca sĩ thoáng ngạc nhiên rồi nở nụ cười rạng rỡ, cảm ơn Eleven.
Ca sĩ quay lại nói với mọi người:
“Tiếc là khách mời đặc biệt của chúng ta không thể ở lại lâu hơn. Cảm ơn Alouette rất nhiều vì màn biểu diễn tuyệt vời. Mọi người, hãy cho cô ấy một tràng pháo tay thật lớn nào!”
Cả quán bar lại vang lên tiếng vỗ tay, huýt sáo, những tiếng gọi tên cô vang dội. Eleven bẽn lẽn cúi đầu thêm lần nữa rồi bước xuống sân khấu, vừa rời khỏi ánh đèn là cô lập tức rời quán bar.
Theo cũng vội vàng đứng dậy, nhưng có người khác ở bàn bên cũng đứng lên, chặn lối ra của anh. Chính là Camicia. Theo dúi mấy tờ tiền vào tay phục vụ mang hóa đơn đến, rồi lập tức bám theo gã đàn ông đó.
*****
Khi rời khỏi quán bar, Alouette để ánh mắt dừng lại trên Tobias. Cô né khỏi dòng người đang ra vào rồi bước ra boong tàu dạo mát.
Tobias liền theo sau, tự hỏi có chuyện gì xảy ra, thì một người đàn ông từ quán bar lao ra và gọi anh lại. Đó chính là Camicia.
“Anh có thấy cô gái vừa đi ra không? Tóc bạc, váy xanh hải quân, găng tay đen.”
“Cô ấy à?”, Tobias đáp. “Trông như cô ấy đang đi ra boong dạo mát đấy.”
“Vậy à? Cảm ơn nhé!”
Camicia chạy đi, còn Tobias thì dùng lối đi của thủy thủ để ra boong trước, chặn đầu Alouette trước khi Camicia kịp tìm thấy cô.
Cô đang đặt tay trái lên lan can ở đuôi tàu, nơi ít người lui tới. Tobias ẩn mình trong bóng tối và chạm vào tai nghe không dây.
“Theo. Mạn phải, boong dạo mát.”
Alouette lặng lẽ kéo găng tay opera trên cánh tay trái xuống, lộ ra làn da nhợt nhạt với ánh kim loại lạ thường. Từ khuỷu tay trở xuống là một bộ phận giả đời cũ.
Cô mở nắp ở khuỷu tay và xoay cuộn dây kết nối với các đầu ngón tay. Sau khi điều chỉnh ngón út và ngón áp út về đúng vị trí (chúng đã bị lệch thấy rõ khi chơi đàn), cô đóng nắp lại rồi kéo găng xuống thêm, mở nắp cẳng tay, lấy ra và thay thế vài bộ phận. Cô đóng nắp, giơ tay trái ra ngoài đại dương, lần lượt cử động từng ngón từ ngón út đến ngón cái, kiểm tra chúng hoạt động bình thường rồi mới thở phào nhẹ nhõm, khẽ nở nụ cười.
“À, tôi thật sự rất ấn tượng khi cô có thể chơi piano giỏi đến vậy dù cánh tay hay hỏng đến mức việc sửa nó đã trở thành thói quen”, một giọng đàn ông đầy say mê vang lên, khiến Alouette giật mình ngẩng đầu.
Trước khi kịp kéo găng lên che lại, một người đàn ông đã nắm lấy phần tay máy lộ ra của cô. Chính là Camicia, đôi mắt anh ta rực sáng như lửa.
“Thật tuyệt vời!”, anh ta thốt lên. “Tôi không ngờ trên đời này lại có một nghệ sĩ piano như cô!”
“Ông… ông là người đã nói chuyện với anh Theo lúc nãy…”, Alouette lắp bắp, Camicia cuối cùng cũng buông tay ra. Cô lùi lại một bước, gần như che chắn bàn tay trái, còn anh ta cúi chào lịch thiệp.
“Tôi xin lỗi vì sự phấn khích của mình, thưa tiểu thư”, hắn ta nói. “Tôi tên là Gino Camicia, tôi làm việc cho công ty Jikun Okajima Commerce. Đây, danh thiếp của tôi.”
“…Tôi cũng xin lỗi.”, Cô rụt rè nhận tấm danh thiếp. “Tôi là Alouette. Xin lỗi vì tôi đã không thể chào ông tại bữa tiệc.”
“Không, không sao cả”, Camicia mỉm cười. “Cô trông có vẻ rất mệt. Thực ra tôi đang tham gia tổ chức một buổi tụ họp ngày mai. Chúng tôi mời khá nhiều nhóm, và tôi được giao chuẩn bị phần tiết mục giải trí.”
“Có rất nhiều chương trình, phải không?”, Alouette gật đầu thân thiện. “Tôi cũng đã nghe qua.”
“Cô cũng sẽ biểu diễn cho chúng tôi chứ? Chỉ cần một bài thôi cũng đủ làm tôi mãn nguyện.”
“Tôi sao? Nhưng… đột ngột quá…”, Đôi mắt cô tròn xoe đầy bất ngờ, còn hắn ta dang tay như thể xúc động đến mức không nhận ra vai cô đang run lên sợ hãi.
“Tiếng đàn của cô đã thật sự chạm đến trái tim tôi!”, hắn ta nói lớn. “Đầy cảm xúc, thật sống động. Cô đã chơi rất tuyệt! Và còn với cánh tay bị thương như vậy… Thật đáng ngưỡng mộ! Tôi rất muốn cô biểu diễn cho buổi gặp mặt sắp tới, cùng với đôi tay máy đó. Khán giả chắc chắn sẽ đồng cảm và cầu nguyện cho những ai không may mắn như cô.”
“Tôi rất biết ơn những lời tốt đẹp này”, cô khẽ nói, thu mình lại. “Nhưng tôi không thể để người khác thấy cánh tay này được.”
“Nghe thì quả thật giống như tôi đang bảo cô phơi bày vết thương đau đớn và quá khứ bi thương ra cho mọi người. Xin lỗi nhé. Tôi hiểu điều đó không dễ chút nào, nhưng xin cô hãy suy nghĩ thử xem.”
Hắn ta quỳ xuống, đặt một tay lên ngực.
“Thưa tiểu thư, tôi đã nhìn thấy ánh sáng hy vọng ở cô. Tiếng đàn của cô sẽ cướp lấy trái tim mọi người, khiến họ nghĩ đến đôi tay cô đã mất và cầu mong một tương lai không ai phải chịu tổn thương nữa. Trên con tàu này có rất nhiều người tuyệt vời, những người đứng ở vị trí trung tâm của quốc gia họ. Màn trình diễn tối nay của cô đủ sức khiến họ phải đòi hỏi chấm dứt chiến tranh.”
“Tôi… Ông nói quá rồi. Tiếng đàn của tôi lay động được lòng người… chỉ là…”, Alouette cúi đầu, giấu tay máy dưới găng.
Nắm lấy những ngón tay đang đầy mặc cảm ấy, Camicia tiếp tục đầy đam mê:
“Không, Alouette. Âm thanh tiếng đàn và hình ảnh cô ngồi bên cây đàn sẽ củng cố những lời cầu nguyện cho hòa bình. Dù sao thì chuyến du thuyền này cũng là để tưởng niệm tình hữu nghị và hòa bình mà.”
“…Như ông thấy đấy, tay máy của tôi thường hỏng sau một hai bài. Ông không phiền sao?”, cô e dè hỏi.
“Không sao cả”, anh ta trấn an. “Tôi, Gino Camicia, tin chắc rằng tiếng đàn của cô có thể thay đổi thế giới. Nếu cô đồng ý tham gia chương trình của chúng tôi, xin hãy gặp lễ tân ở sảnh chính vào trưa mai. Chúng tôi cũng sẽ gửi cô một món quà nhỏ để bày tỏ lòng cảm kích. Tôi đảm bảo cô sẽ không hối hận.”
Cô không trả lời ngay. Nhưng ánh mắt cô dao động, bối rối và lưỡng lự. Nụ cười của Camicia càng rộng hơn, anh ta cung kính đưa các đầu ngón tay máy mảnh khảnh của cô lên chạm vào trán mình.
“Chúng tôi sẽ đợi. Chúc cô một buổi tối thật tuyệt vời.”
“Xong chưa vậy?”, một giọng nói vang lên.
Tiếng bước chân mạnh mẽ tiến lại, và bàn tay của Camicia bị hất ra. Theo bước tới, ôm vai Alouette khi cô lùi lại. Anh đẩy cô ra sau lưng, mặt đầy nghiêm nghị.
Nhưng Camicia chỉ đáp lại bằng một nụ cười.
“Ồ, chẳng phải là ngài hạ sĩ sao. Xin thứ lỗi. Tiếng đàn của cô ấy thật sự quá tuyệt.”
“Tiếng đàn của cô ấy đúng là đáng khen”, Theo đáp cụt lủn. “Nhưng tôi không ấn tượng với cách ông lén lút tiếp cận cô ấy khi chẳng ai xung quanh.”
“Ha-ha-ha! Xin lỗi nhé. Là kẻ xen ngang, tôi xin rút lui. Xin phép.”, Camicia cúi chào hai người rồi bước vào trong con tàu.
Khi bóng anh ta khuất hẳn, Theo thở dài, ngả người ra lan can, còn Alouette thì lại trở về nét mặt không cảm xúc. Tobias cuối cùng cũng bước ra khỏi bóng tối.
“Ôi trời.”, Anh ta đảo mắt. “Hắn ta đúng là dễ xiêu lòng nhỉ? Có lẽ tôi cũng chẳng cần phục kích làm gì.”
“Chúng ta đâu biết hắn sẽ làm gì, tôi vẫn rất cảm kích vì anh đã đợi sẵn, Tobias”, Alouette, hay đúng hơn là Eleven—nói, chớp mắt chậm rãi, gương mặt trở lại vẻ lạnh lùng thường thấy.
“Tôi đoán rằng hắn sẽ mất cảnh giác và để lộ thông tin nếu chỉ có hai người, nhưng hắn kín miệng hơn tôi nghĩ.”
“Có lẽ hắn thực sự muốn đưa Alouette tham gia, nên phải cẩn thận để không dọa cô ấy sợ”, Theo xoa lại mái tóc rối bời, trông có vẻ mệt mỏi.
“Hắn sẽ cố gắng trình Alouette ra trước ban hội đồng trong buổi tụ họp ngày mai rồi mới quyết định có mời hay không. Tôi thật không ngờ hắn lại lao ra khỏi quán bar như thế.”
“Tôi cũng bất ngờ”, Tobias gật đầu. “Có phải cánh tay máy hỏng là ý của cô không, Eleven?”
“Đúng vậy.”, Cô ngước mắt nhìn họ với ánh mắt vô cảm thường ngày.
“Tôi đã cân nhắc lý do gia đình Brouwers được chọn trong số nhiều người mất người thân. Họ bất ổn hơn hẳn những người khác, và tôi giả định họ bị nhắm tới vì dễ trở thành con mồi cho lừa đảo. Tôi đi đến kết luận rằng cũng cần phải khiến Alouette có vẻ bất ổn như vậy.”
“…Cô vẫn có thể chơi piano với đôi tay hiện tại, nhưng đó là mẫu cũ, rất nhanh hỏng”, Theo nhận xét.
“Dù cô có đủ tiền để mua tay mới, nhưng vì vướng bận tình cảm mà không thể vứt bỏ được chúng. Chúng kìm hãm sự phát triển của cô và càng làm cho cô thêm mặc cảm suốt những năm qua. Là một câu chuyện thì cũng không tệ. Và có vẻ như Camicia đã tin rồi.”
Tobias nhíu mày.
“Nhìn thái độ của hắn, tôi đoán hắn sẽ mời Alouette tham dự, kể cả có phải đích thân vặn tay từng thành viên hội đồng. Vấn đề là buổi salon đó sẽ diễn ra lúc nào.”
“Họ đã thông báo lịch trình cho nhân viên chưa?”, Theo hỏi.
“Chưa nghe gì cả. Nhưng họ không thể giữ kín hoàn toàn được. Nhân viên bếp bảo tôi rằng đơn hàng đồ ăn nhẹ và nước uống sẽ được gửi đến ngay sáng hôm tổ chức salon.”, Tobias mở sổ ghi chép ra.
“Cũng giống như đặt phòng phục vụ, các đơn hàng từ salon sẽ được chuyển xuống bếp vào sáng ngày diễn ra. Chỉ có điều, thời gian không cố định, trà chiều, trước bữa tối, vân vân. Chẳng theo quy luật nào cả.”
“Khó mà nắm bắt được kế hoạch của bọn họ.”, Theo thở dài. “Cảng tiếp theo là trong ba ngày nữa.”
“Tôi sẽ cập nhật tình hình. Họ chắc chắn sẽ mở salon ít nhất một lần trước khi chúng ta đến Zabahlio, nên tôi đoán chắc là ngày mai hoặc ngày mốt.”, Tobias nói tiếp.
Nói cách khác, bây giờ họ cũng chẳng thể làm gì được. Nét mặt Theo trở nên u ám.
“Tôi không ngờ chính Camicia lại chủ động tiếp cận”, anh nói. “Tại sao hắn lại xem trọng Alouette đến vậy? Vì ngoại hình, gia thế à?”
“Có thể hắn chọn cô ấy vì mục đích tiếp thị đơn giản. Alouette đã thu hút sự chú ý chỉ bằng việc tham dự buổi tiệc”, Eleven nhận xét.
“Nếu cô gái đã chơi piano tuyệt vời với cánh tay máy cũ nát đó, rồi sau này chơi với đôi tay trông như thật, chắc chắn sẽ khơi gợi sự tò mò, khiến người ta tự hỏi đó là tay gì. Kế hoạch của Jikunokagu có thể là xuất hiện đúng lúc khi hành khách vẫn còn bị cuốn theo sự tò mò ấy. Nếu họ làm được tay thì tất nhiên cũng làm được bộ phận khác, nội tạng thay thế. Khi đó, họ sẽ kiếm được bộn tiền nhờ bán sản phẩm.”
“Ừm, nếu bọn chúng có nguồn ‘hàng’ vô tận từ Amalgam mà gần như không tốn phí, thì cũng dễ hiểu tại sao chúng tham lam”, Theo đồng tình, rồi bực bội vò đầu. “Nhưng vậy thì quá nhỏ nhoi. Sao Amalgam lại nghe lệnh một con người?”
“Một loại vũ khí phụ thuộc vào năng lực chỉ huy của con người thì vẫn chưa hoàn thiện và thiếu chuẩn bị”, Eleven nhẹ nhàng đáp.
“Nếu có mệnh lệnh, nó sẽ tuân theo, bất kể năng lực chỉ huy của ai đó ra sao.”
“Chết tiệt”, Theo khẽ chửi. “Thật là rắc rối mệt mỏi, mấy thứ vũ khí này.”
“Thôi nào.”, Tobias cười gượng, hiểu được cảm xúc của Theo cũng như ý Eleven muốn nói. “Vậy từ giờ, chúng ta sẽ điều tra thêm về Jikunokagu?”
“Về chuyện đó. Tobias, anh có thể tìm thêm thông tin khác không?”, Eleven hỏi. “Chúng tôi đang tự hỏi liệu cơ thể chính của Amalgam có đang ẩn dưới đáy biển không.”
Anh ta liếc nhìn ra biển. Khi nghĩ đến việc có một Amalgam đang ẩn mình dưới đáy đại dương yên ả kia, Tobias hơi rùng mình.
“Đi tìm Amalgam dưới đáy biển… Chuyện này vượt ngoài khả năng của tôi mất.”
“Chính vì vậy.”, Theo nói. “Anh thử hỏi thăm thủy thủ xem có rắc rối gì trên mặt biển không? Chúng tôi cũng sẽ dò hỏi, nhưng nếu giả sử Amalgam ở dưới đáy biển, Jikunokagu phải lấy ‘hàng’ bằng cách nào đó. Chúng ta không rõ bằng cách nào, hay tần suất ra sao, nhưng tôi chắc chắn ít nhất sẽ có thứ gì đó khiến những người làm nghề biển phải giật mình.”
“Đúng. Dù họ lặn xuống hay vớt bất cứ thứ gì trôi lên, chắc chắn sẽ có con tàu khả nghi”, Tobias gật đầu.
“Cũng phải tính đến thủy triều, nên tôi không dám chắc, nhưng nếu Amalgam không tự di chuyển được thì bọn Jikunokagu sẽ chỉ hoạt động trong một khu vực cố định.”
“Không. Đợi đã…”, Eleven đột ngột lên tiếng. Tobias nhìn cô đầy ngạc nhiên, nhưng cô không nói tiếp.
Theo cũng nghi hoặc, cúi xuống nhìn cô.
“Sao vậy? Có gì khiến cô bận tâm à?”
“Khi tôi tính toán khả năng các Amalgam được bán dưới dạng proxy quay trở lại biển, tôi đã giả định rằng Camicia không có liên lạc với khách hàng. Nhưng nếu khách hàng cũng đang ở trên cùng con tàu hoặc ngoài biển vì lý do nào đó, thì đúng là hắn có thể tiếp xúc với họ. Trong trường hợp đó, tôi nghĩ tốt nhất nên tính toán xem Amalgam dưới đáy biển sẽ phản ứng thế nào.”
“Ồ!”, Tobias bật ra một tiếng kinh ngạc. Giờ cô nhắc mới thấy hoàn toàn có lý.
“Nếu người dùng ở ngoài biển và Amalgam dưới đáy biển, thì có thể chúng sẽ thu hồi các proxy đã suy yếu khi chúng tự tiêu hao năng lượng để quay về chỗ Camicia.”
“Bắt được người dùng proxy cũng có thể đòi hỏi phải trong tầm mắt”, Theo tiếp lời.
Một bầu không khí im lặng bao trùm cả nhóm. Tobias thở dài, chỉnh lại cổ áo đồng phục.
“Dù sao thì, tôi phải quay lại làm việc đây.”, Anh nói. “Tôi sẽ hỏi thăm về bất kỳ người hay con tàu khả nghi nào.”
“Nhờ anh.”, Theo gật đầu. “Chúng tôi cũng sẽ tiếp tục dò hỏi.”
Khi họ quay lại từ boong tàu ra sảnh đi dạo, lối đi đã đông nghịt khách đang đổ về phòng ăn tối. Không thể biết được ai trong số họ là du khách bình thường và ai là người của Jikunokagu.
*****
“Cảm ơn rất nhiều. Tạm biệt.”
Emma từ từ thở ra khi kết thúc cuộc gọi thứ n của mình rồi ngả người ra sau ghế. Cô nhìn lại danh sách, chỉ còn bảy cái tên. Trong số đó, người khiến cô bận tâm nhất là đại diện Lữ đoàn Cứu trợ Banthobuk, Chensey Saika. Emma không có thông tin liên lạc cá nhân của Saika, nên số điện thoại trong danh sách chỉ dẫn đến văn phòng của Lữ đoàn. Nghe nói Saika vẫn đang thực hiện công tác cứu trợ ở các vùng xung đột ngay cả bây giờ.
“Cô ấy sẽ là ứng viên sáng giá nhất. Cô ấy hiểu rõ về Promethogia và thường xuyên đi đến vùng chiến sự. Nhưng tôi dám chắc cô ấy chẳng có thời gian rảnh để dạy người thường về nghiên cứu của mình.”
Emma gác Saika sang một bên như phương án cuối cùng và nhìn sang sáu người còn lại. Thông tin liên lạc có thể không còn chính xác, nhưng tên của họ vẫn được giữ lại trong danh sách, kể cả nếu người đó đã qua đời.
“Mình có thể tìm trong các bài báo không nhỉ? Dù sao thì họ cũng là những học giả xuất chúng…”
Cô đăng nhập vào cơ sở dữ liệu của Cục Điều tra Hình sự rồi tra cứu tên họ trong các tờ báo toàn quốc. Một người hiện lên trong cáo phó—chết vì tuổi già/bệnh tự nhiên. Một bài báo khác viết về nỗ lực của một nhà khảo cổ học đã giải mã thành công một ma pháp trận tìm thấy ở tàn tích nào đó. Emma đánh dấu tên trong danh sách khi tra cứu xong rồi chuyển sang cái tên tiếp theo—cho đến khi tay cô đột nhiên khựng lại.
Jens Nilholm Chết Trong Vụ Cháy Nhà
Bản tin ghi ngày ba năm trước, sáu tháng trước khi Basil Brouwer chào đời. Là một học giả nghiên cứu cấu thành kỹ thuật và magineer tài năng, Nilholm được phát hiện đã chết trong nhà riêng. Đám cháy bắt nguồn từ phòng ngủ, được kết luận là do bất cẩn khi sử dụng lửa; cảnh sát xác định không có dấu hiệu đáng ngờ nào. Vợ ông, Fanne, người đã hỗ trợ ông cả trong công việc lẫn đời tư, nói với họ rằng giáo sư đã bỏ thuốc lá từ vài năm trước và không đời nào lại hút trong phòng ngủ. Bà một mực khẳng định có điều gì đó không ổn. Nhưng không có chứng cứ nào cho thấy đây là một vụ giết người.
Emma ghi lại tên của vị giáo sư và khu vực ông sống, rồi lập tức liên lạc với sở cảnh sát địa phương. May mắn thay, viên thanh tra đã điều tra vụ án và kết luận không có dấu hiệu tội phạm vẫn còn công tác tại đó.
“Đúng là tiếc cho giáo sư Nilholm”, ông ta nói. “Ông ấy là một người tài giỏi, niềm tự hào của vùng này.”
“Xin hỏi điều gì khiến ông kết luận vụ cháy là do bất cẩn?”
“Ngọn lửa bắt nguồn từ phòng ngủ, giáo sư Nilholm thì đang nằm trên giường. Trên bàn cạnh giường có các mẩu thuốc lá. Giám định pháp y phát hiện có khói trong phổi ông ấy, tức là ông vẫn còn sống khi hít phải. Không phát hiện chấn thương nào khác ngoài các vết bỏng. Nồng độ cồn trong máu cũng cao, nên chúng tôi kết luận ông ấy đã say và ngủ quên với điếu thuốc đang cháy, không may gây ra hỏa hoạn.”
“Vậy ông chắc chắn không phải án mạng?”, Emma hỏi dồn, và viên thanh tra rõ ràng chần chừ trước khi tiếp tục chậm rãi.
“Chúng tôi không tìm thấy chứng cứ thuyết phục. Nhưng vẫn còn vài điểm đáng ngờ.”
Viên thanh tra nêu ba điểm chưa có lời giải. Thứ nhất, Nilholm được cho là đã uống rượu vang, nhưng không tìm thấy ly nào đã dùng. Thứ hai, rượu rum ngấm vào giường rồi chảy xuống sàn. Họ tìm thấy một chai rỗng trên bàn cạnh giường, nhưng không có dấu vết rượu rum trong dạ dày ông ấy. Thứ ba, theo lịch sử cuộc gọi, có ai đó đã gọi cho giáo sư ngay trước khi đám cháy xảy ra.
“Chúng tôi thực sự muốn tìm ra manh mối cho thấy đây là một vụ án mạng.”, Viên thanh tra thở dài.
“Nhưng chỉ vì ông ấy không uống chỗ rum bị đổ thì không đủ để kết luận, nên chúng tôi buộc phải khép lại vụ án.”
“Hiểu rồi.”, Emma gật đầu. “Và các ông không tìm thấy dấu vân tay của người khác trên mẩu thuốc lá, đúng không?”
“Đúng vậy. Trên các mẩu thuốc lá và chai rượu chỉ có dấu vân tay của giáo sư.”
“Cảm ơn ông rất nhiều. Ông có thể gửi cho tôi bản sao hồ sơ vụ án không? Và thông tin liên lạc của vợ ông ấy. Tôi muốn nói chuyện trực tiếp với bà ấy.”
Emma ghi số điện thoại vào sổ tay, cảm ơn viên thanh tra rồi kết thúc cuộc gọi. Cô gần như không thể chịu nổi khi chờ máy fax chuyển hồ sơ, thậm chí còn bực bội gõ nhẹ lên máy.
Ai đó đã đến nhà ông ấy, một người đủ thân thiết để cùng uống rượu. Sau đó, ông ta uống rất nhiều, hút thuốc dù đã bỏ, rồi ngủ quên với điếu thuốc đang cháy. Nghe chẳng hợp lý chút nào.
Giáo sư Nilholm thường xuyên xuất hiện trước truyền thông, quảng bá cho sự phát triển và phổ biến của magineering. Chính vì thế ông có nhiều người hâm mộ chân thành thương tiếc khi ông qua đời, và cáo phó của ông được đăng tải rộng rãi. Nhưng nếu ai đó đã nhắm vào ông chính vì sự nổi tiếng đó thì sao?
Emma có linh cảm xấu, tim nặng trĩu khi cô quay số.
“Xin hỏi, đây có phải bà Fanne Nilholm không? Tôi là Canary từ Cục Điều tra Hình sự. Tôi muốn hỏi bà về cái chết của giáo sư Jens Nilholm ba năm trước…”
Emma nghiến răng. Tất cả những gì cô làm chỉ là khơi lại vết thương cũ của người khác.
*****
Alouette đột ngột rút ra một tấm danh thiếp khi những tràng cười và tiếng trò chuyện tạm lắng xuống.
“Anh có biết người tên là Gino Camicia không?”, cô hỏi.
“Ông ấy là chủ tịch của một công ty thương mại. Ông ấy mời tôi biểu diễn ở một sự kiện vào ngày mai, nhưng chúng tôi chưa thực sự có cơ hội nói chuyện nhiều.”
Nhìn vẻ bối rối trên gương mặt cô, những người đi cùng liền đáp lại đầy phấn khởi.
“Đúng là ông ấy đấy!”, một người cười nói. “Ông ấy cứ phải khoe mọi thứ mà mình cho là tuyệt vời với mọi người.”
“Ông ấy thường hay mời khách đặc biệt biểu diễn trên các chuyến du thuyền thế này,”, một người khác tiếp lời.
“Chắc cô thấy bất ngờ, nhưng ông ấy thực sự bị tài năng của cô cuốn hút đấy. Cô cứ tin ông ấy một lần xem sao.”
“Vậy sao?”, Alouette mỉm cười, phần nào yên tâm hơn. “Thế ông ấy đã từng mời ai biểu diễn bất ngờ như vậy chưa?”
“Ví dụ như tối qua, có một vũ công tap dance dùng chân giả đã lên biểu diễn cho bọn tôi xem.”
Những hành khách khác thi nhau kể đủ câu chuyện để xua tan lo lắng trong lòng cô.
Trong khi đó, Theo lắng nghe họ nói chuyện không ngừng, đôi mày hơi cau lại.
Rõ ràng, Camicia đã dùng mấy buổi biểu diễn này như cái cớ để mời những người ông ta muốn đến salon, rồi khoe họ với ban điều hành. Chưa kể, Camicia nổi tiếng là một tay du lịch hơn nhiều so với những gì Theo và nhóm anh đã nghĩ. Có lẽ ông ta đang tạo dựng quan hệ qua những cuộc tiếp xúc lặp đi lặp lại thế này để đưa sản phẩm của Jikunokagu ra ngoài thế giới?
Theo âm thầm ghi nhớ tất cả những thông tin nghe được, vừa gật gù, vừa đáp lại khi cần thiết.
*****
Tobias ăn tối xong ở căng tin rồi đi về khu vực nơi các thủy thủ và những người kỳ cựu tụ tập. Những người này chịu trách nhiệm vận hành động cơ và các phần cơ khí của con tàu, nên họ thường dậy sớm hơn phần còn lại của thủy thủ đoàn. Điều đó cũng có nghĩa là họ đi ngủ sớm.
Họ vui vẻ chào đón Tobias tham gia vào khoảng thời gian thư giãn ngắn ngủi trước khi tắt đèn. Khi Tobias nhắc đến chuyện rắc rối ngoài biển, nhiều lão thủy thủ lập tức gật gù. Đây đều là những người từng làm việc trên nhiều con tàu, nên họ có bạn bè ở hầu hết mọi cảng.
“Tàu đáng ngờ hả? Dạo này nhiều hơn hẳn đấy.”
“Quá trời luôn. Nào là bọn săn trộm, nào là mấy tay đang chạy trốn khỏi thứ gì đó đuổi theo chúng. Đủ loại tàu mờ ám. Nhưng gần đây thì càng bất thường.”
“Tầm sáu tháng trước, tôi thấy bọn nó quăng hàng xuống biển, sốc thiệt. Tôi tưởng bọn nó sẽ bị bắt vì xả thải bất hợp pháp, ai dè tháng sau đã thấy chúng mặc mấy bộ đồ lặn cũ kỹ chưa từng thấy, thả lưới bắt sứa.”
Những thủy thủ thi nhau kể những gì họ biết, gần như nói đè lên nhau, vừa nói vừa trao đổi những ánh mắt nghi ngờ. Tobias gật đầu chăm chú, ghi nhớ tất cả. Việc xả thải bất hợp pháp có lẽ là nhiên liệu cho sinh sản, còn mấy con sứa kia chắc là Amalgam trước khi chúng ngụy trang.
“Các anh thấy họ ở đâu?”, anh hỏi. “Tôi nghĩ ở gần cảng thì dễ bị để ý lắm.”
“Tôi gặp bọn nó ít nhất một lần ở Zabahlio”, một thủy thủ trả lời. “Chúng còn quát tôi vì bảo cản trở chúng đánh cá. Trong vùng nước nông, tôi mới bảo ‘Ra khơi mà không biết nước sâu thế nào thì coi chừng đấy.’”
“Cái tàu đó rợn người thật. Ai đời đi bắt cả đống sứa? Có cần thiết đâu.”
“Tháng trước cũng thấy bọn nó ngoài khơi. Dùng lưới quét đáy biển. Anh em tôi còn hoảng hồn.”
Một người bắt đầu kể, thì ai cũng nối tiếp theo, chuyện này kéo chuyện kia. Tobias gần như chắc chắn tất cả những câu chuyện đó ghép lại thành bức tranh Jikunokagu đang gom hàng mà chẳng thèm giấu giếm.
“Các anh bảo đánh cá hả?”, Tobias hỏi ngay. “Vậy là rạng sáng?”
“Ờ.”, Một thủy thủ gật đầu. “Giữa đêm đến sáng sớm. Nhưng lạ lắm. Vùng biển đó sứa đâu nhiều, sao bắt được cả lưới đầy?”
“Chúng mang theo cả đống máy móc to đùng, chắc có máy dò sứa gì đó. Tôi không biết chúng bắt loại sứa gì, nhưng để bắt được mấy con đó cần thiết bị xịn lắm.”
“Vậy à?”, Tobias nói. “Tàu du lịch như thế này thường không chạm mặt mấy tàu đánh cá, đúng không?”
Một thủy thủ cau mày, người khác thì nhún vai.
“Không hẳn. Tàu trước tôi làm từng phải dừng khẩn cấp vì một tàu đánh cá kỳ quặc đâm phải. Tính giao cho hải quân, mà bọn nó phóng đi như ma đuổi.”
“Ước gì bọn nó đừng làm mấy trò liều mạng. Thôi thì chỉ mong chuyến này không có rắc rối.”
“Chuẩn rồi.”, Tobias cảm ơn các thủy thủ rồi tạm biệt họ khi họ bắt đầu chuyển sang chuyện đi ngủ sớm.
Anh vừa đi về phía kho hàng vừa nghĩ ngợi. Jikunokagu không treo bảng hiệu công khai, nhưng cũng chẳng buồn giấu giếm việc thu gom hàng từ nhiều nơi. Làm sao con Amalgam dưới đáy biển báo cho chúng biết chỗ có lõi sinh sản? Có lịch trình cố định nào không? Hay theo dòng thủy triều? Hay mấy thiết bị trên tàu phát tín hiệu cho Amalgam?
Chắc Eleven sẽ phải kiểm tra vụ đó.
Tobias thở dài một hơi rồi nhớ lại buổi tiệc chào mừng. Alouette, cô gái đặc biệt với nụ cười ngây thơ và vẻ u sầu bí ẩn. Anh chẳng thể tưởng tượng được Eleven bình thường lại có thể như thế. Anh hơi tiếc vì không chụp được tấm hình nào, vì lúc đó bận làm việc.
Miễn sao Theo đừng có lúng túng rồi kỳ quặc là được…
Tobias đã cố dạy Theo rằng giải trí và tận hưởng cũng quan trọng trong cuộc sống, nhưng Theo vẫn quá nghiêm túc và thường chẳng biết cách buông lỏng. Nhỡ cậu ta phải lòng Eleven khi cô đóng vai Alouette thì sao? Hay cậu ta đã biết rạch ròi giữa nhiệm vụ và tình cảm?
Nghĩ vậy chỉ vì tò mò cá nhân, Tobias chợt dừng lại khi nghe thấy tiếng hát vọng ra từ kho hàng. Giọng một người phụ nữ, giai điệu lạ lùng.
Anh nhẹ nhàng bước lại gần và thấy nhân viên bảo vệ anh gặp hồi chiều, Tarja, đang tựa lưng vào đống hàng, hát.
“…Tarja?”, anh gọi. “Cô đang làm gì vậy?”
Tarja giật mình, ngẩng đầu lên, vội ngậm miệng rồi bật dậy.
“T-Tôi… đang nghỉ giải lao”, cô lắp bắp.
“Nghỉ trong kho hàng? Cô lạ thật đấy… Bài hát ban nãy hay lắm. Như ru con ngủ vậy.”, Tobias tiến lại và tựa lưng cạnh cô.
Tarja lẩm bẩm gì đó, trông có vẻ ngượng, rồi lại ngồi xuống.
“Bà ngoại tôi là người cá siren. Bà hay hát ru tôi lắm.”
“Thật tuyệt”, Tobias chân thành nói. “Cả tình thương của bà dành cho cô lẫn việc cô vẫn còn nhớ lời ru ấy đến giờ.”
Tarja ngước nhìn anh, bẽn lẽn:
“Tôi chẳng có năng lực của siren đâu, máu loãng lắm. Nhưng tôi có đôi tai của bà. Tôi nghe được tiếng nói của những thứ sinh ra từ biển.”
“Ý cô là cá, cá voi, mấy thứ kiểu vậy?”
“Ừm. Bất cứ gì sinh ra từ biển. Trong này, tôi nghe đủ loại. Tôi thích vậy.”, Một nụ cười bình yên hiện trên mặt cô, giọng nói chân thành.
Tobias chỉ nghe thấy tiếng động cơ ù ù, nhưng nghĩ đến việc cô ấy nghe được một thế giới âm thanh khác thật thú vị.
“Cô nghe thấy những gì?”, anh hỏi.
Cô dè dặt liếc anh: “Anh sẽ không cười tôi chứ?”
“Chắc chắn không.”
Cô ngập ngừng, rồi nhìn lại đống hàng anh đang tựa vào.
“Có giọng nói phát ra từ cái thùng đó.”
“Từ cái thùng?”, Anh quay đầu lại. “Nhìn đâu giống bể cá gì đâu nhỉ.”
“Đúng không? Lạ lắm. Nhưng có giọng nói thật. Lo lắng. Khiến tôi bứt rứt.”, Tarja đứng lên, chạm tay vào một cái thùng. “Cái này.”
Nhìn giống hòm lạnh khóa chặt, nhưng nặng bất ngờ. Khi anh nghiêng thử, anh cảm giác có chất lỏng bên trong.
“…Có nước trong này”, anh nói. “Nhưng không có máy bơm oxy gì hết. Lạ thật.”
“Thứ bên trong chẳng biết nói sao cho rõ. Kiểu như nói chuyện với em bé vậy. Nhưng cảm xúc… tôi vẫn mơ hồ cảm được lo lắng, hạnh phúc, kiểu vậy.”
“Vậy nên cô hát ru để dỗ nó.”, Anh mỉm cười. “Chỉ có một giọng thôi à?”
“Cái trả lời nhiều nhất là ở thùng này. Nhưng tôi cảm giác còn mấy thùng khác.”
Tobias rút ra một thiết bị dò, lập tức nghe thấy tiếng bíp điện tử báo hiệu có phản ứng.
“Gì vậy?”, Tarja nhìn anh ngạc nhiên. “Máy dò kim loại à?”
“Gần như vậy… Không có vẻ nguy hiểm. Dù sao thì tôi thấy cô tốt bụng đấy Tarja, nhưng đừng thức khuya quá. Mai buồn ngủ thì khổ.”
“Vâng.”
Dù đáp khá cụt, cô không hề khó chịu. Cô lại ngồi xuống trước đống hàng và khẽ ngân nga bài ru.
Tobias mỉm cười vẫy tay chào rồi rời kho hàng. Máy dò của anh chắc chắn đã phát hiện vũ khí ma thuật.
Không rõ loại gì, nhưng tổng cộng tám cái. Nếu chúng đến từ Amalgam dưới đáy biển, thì có lẽ tai của Tarja nghe được giọng của bọn repros.
Tobias vẫn thấy khó tin ngay lập tức, nhưng anh vẫn báo lại cho Theo và đội.
Tour du thuyền: Ngày thứ hai
Nhà hàng Havmonet, nơi tự hào với tầm nhìn biển qua những khung cửa sổ lớn, chật kín hành khách đang ăn sáng. Theo nhấp một ngụm cà phê đen rồi thì thầm, giọng vừa đủ lẫn vào tiếng ồn xung quanh: “Cái ông Camicia đó trông bảnh trai hơn tôi tưởng đấy.”
“Ông ta hòa nhập với xã hội rất có tính toán. Diễn xuất giỏi đến mức che giấu được bản chất thực dụng, và có không ít cộng sự. Không ai nói xấu gì ông ta cả, đến mức khó tin. Được mời biểu diễn ở sự kiện của ông ta coi như là may mắn thật, nếu nghe mọi người khen thế.”, Eleven cắt xi-rô bằng dao rồi quét gọn lên miếng pancake, đưa lên miệng một cách gọn gàng, không để sót giọt xi-rô hay mẩu bánh nào, khiến Theo hơi tròn mắt.
“Cô ăn khéo thật đấy”, anh nhận xét. “Dù lần trước ăn kem còn vụng.”
“Tôi bắt chước cách bạn ông Camicia ăn. Kỳ lạ lắm sao?”
“Không, tôi không có ý đó. Tôi chỉ khen cô thôi.”, Anh vội xoa dịu.
“Camicia lúc nào cũng đi với bạn bè nhỉ? Có phải hắn ta cố giữ thời gian ở một mình ở mức tối thiểu không?”
“Trên du thuyền thì các cặp đôi thường thấy. Ở với bạn bè trông cũng tự nhiên hơn mà.”
“…Có khi hắn ta quản chặt những người biết chuyện, nên chẳng ai dám than phiền về Jikunokagu.”, Theo trầm ngâm. “Lạ thật, quen biết bao nhiêu người mà không nghe chê bai gì.”
Eleven nhẹ nhàng chấm môi bằng khăn giấy rồi mỉm cười:
“Biết đâu mọi người đều đang đóng kịch. Như thể không ai muốn bị xem là người duy nhất chưa được hắn ta ban phước. Nếu thấy người khác đạt được điều mình không có, chắc buồn lắm.”
“Tự ái chắc đóng vai trò lớn.”, Anh gật đầu. “Với lại, ít ai biết rõ về Đông Akaryaza, nên họ sẽ không thừa nhận đã mua hàng giả.”
Thực tế, những người từng mua bùa chú hay thuốc của Jikunokagu đều khăng khăng nói chúng hiệu quả. Hiện tại, Theo buộc phải tin lời họ, vì không có cách nào kiểm chứng khi còn ở trên tàu. Nhưng những người đã hồ hởi ca ngợi công dụng với anh và Eleven trong buổi tiệc chào mừng có khi lại biết rõ họ đã bị lừa.
Điều anh lo nhất lúc này là mấy cái thùng Tobias tìm thấy trong kho hàng.
“Tổng cộng tám tín hiệu. Và bọn mình phát hiện mười hai người dùng proxy đi lại trên tàu”, Theo nói. “Nhiều hơn tôi nghĩ.”
“Tôi cầu mong họ không mang đồ cấm.”, Eleven đáp. “Đã nhận được phản hồi từ Hải quân chưa?”
“Chưa.”, anh lắc đầu. “Dòng triều phức tạp, điều tra cũng khó.”
Chưa tính đến chuyện bọn bản sao ngoan ngoãn làm hàng hóa, vẫn còn quá nhiều yếu tố chưa rõ.
Ban đầu, họ cho rằng Amalgam bị lấy từ chiến trường rồi giấu dưới đáy biển. Nhưng nhờ Tobias, họ biết có tàu khả nghi xuất hiện ở nhiều nơi, bắt số lượng lớn thứ trông như sứa, nên có lẽ phải xem lại giả thuyết đó.
Về bản chất, Amalgam ưu tiên hiệu suất. Có khả năng nó chủ động thu hồi bản sao khi chúng ra biển, thay vì chỉ nằm im dưới đáy và chuyển hóa tài nguyên thành lõi? Ngay cả khi nó không trực tiếp tiêu thụ mẫu vật, cũng không loại trừ khả năng tái sử dụng mỗi lần tàu bổ sung hàng.
“…Tốt nhất đừng mò xuống đáy biển bừa bãi mà lòi đuôi.”, Theo kết luận. “Mong mấy con drone tìm được nó.”
“Chiều nay tàu khu trục Calwell sẽ đến đúng không?”, Eleven hỏi. “Không biết Emma có kịp không.”
“Cô ấy bảo còn việc phải điều tra. Tôi tin cô ấy xoay xở được.”, anh không thể nói thêm gì vì vẫn chưa có tin từ Emma. “Cô cứ tập trung chuẩn bị biểu diễn hôm nay. Cô chọn bài nào chưa?”
Eleven chỉnh lại khăn buộc tóc, nhìn anh, mỉm cười đầy tự tin: “Tôi có một bài rất đặc biệt. Anh cứ đợi mà xem.”
“Gì vậy? Hy vọng là bài tôi biết đấy.”
“Chắc chắn anh biết. Quân nhân và mấy người mê lịch sử hẳn sẽ biết.”
“Thế thì tôi mong lắm.”
Theo lặng lẽ uống hết tách cà phê. Đối tác của anh hôm nay vẫn vững vàng như mọi khi. Có khi còn vững vàng quá mức.
*****
Khi Fanne Nilholm chấm nước mắt bằng chiếc khăn tay, Emma cảm ơn bà rối rít rồi rời khỏi căn nhà ở vùng ngoại ô. Cô quay lại xe và xem lại những ghi chú mình đã ghi.
Vài tháng trước khi giáo sư qua đời trong vụ hỏa hoạn, ông đã được phỏng vấn nhiều lần bởi một nhà báo tự do cho loạt bài viết trên tạp chí. Tên nhà báo đó là Giorgio Santoro. Sau khi đăng cáo phó của Nilholm, Santoro đã cắt đứt mọi liên lạc với tất cả mọi người.
Biên tập viên cho biết Santoro từng là phóng viên chiến trường nhưng phải nghỉ việc sau khi bị thương trong lúc tác nghiệp. Sau đó, ông ta tận dụng kinh nghiệm và hiểu biết đặc biệt của mình để được giao phụ trách mảng magineering (kỹ thuật ma pháp), nhưng rồi lại biến mất tăm.
Khi bắt đầu phụ trách mảng kỹ thuật ma pháp cho tạp chí hàng tháng, Santoro đã xin phỏng vấn Nilholm vì vị học giả này vốn quen làm việc với truyền thông. Theo lời Fanne, Santoro lẽ ra sẽ đến phỏng vấn vào đúng ngày Nilholm qua đời, nhưng cuối cùng lại không xuất hiện. Tối hôm đó, bà có việc gấp phải ra ngoài, và trong lúc bà đi vắng thì xảy ra vụ cháy, Nilholm chết trong đám lửa.
Trong thời gian đưa tin, Santoro đã xây dựng được mối quan hệ với Nilholm. Nhưng có phải giữa họ đã xảy ra mâu thuẫn, nên ông ta phóng hỏa giết người rồi ngụy trang thành tai nạn?
Khi nói chuyện với biên tập viên của Santoro, Emma biết được Giorgio Santoro từng có tiền án. Khi còn trẻ, ông ta thường xuyên bị cảnh sát bắt giữ vì đánh nhau và trộm cắp. Theo hồ sơ quân đội, ông ta từng được cài cắm theo các đơn vị quân đội ở vùng chiến sự với tư cách phóng viên chiến trường, nhưng sau đó đã để lộ vị trí của một đơn vị do nhiều lần cướp bóc, gây ra cái chết cho họ và bị trục xuất.
Chi tiết nhiệm vụ thì bị mật, nhưng Emma biết khu vực đó. Đã có thương vong rất lớn dù đã triển khai Amalgam. Vụ việc từng gây tranh cãi dữ dội về tính hiệu quả của Amalgam.
Emma cau mày, đặt những bức ảnh chụp cận mặt Giorgio Santoro và Gino Camicia cạnh nhau.
Fanne có biết Santoro, nhưng bà chưa từng gặp Camicia. Santoro là một người đàn ông gầy gò với mái tóc tẩy màu, da rám nắng và để râu xồm xoàm. Camicia cũng có làn da rám nắng, nhưng thân hình vạm vỡ hơn, tóc đen và râu ria được tỉa gọn gàng. Màu tóc và các đặc điểm dễ nhận diện thì hoàn toàn khác nhau. Nhưng mắt, mũi và môi của họ lại giống hệt nhau.
Họ của mẹ Santoro trước khi kết hôn là Camicia. Giorgio cũng có thể rút gọn thành Gino. Nếu ông ta chọn một cái tên rút gọn từ tên thật và họ thời con gái của mẹ để làm bí danh thì sao?
“Ông ta từng ở vùng giao tranh ác liệt, rồi chờ một Amalgam bị phá hủy hoàn toàn để thu hồi lõi. Nhưng lại không biết cách sử dụng, nên mới tìm đến tiến sĩ Nilholm, giết ông ấy để bịt đầu mối khi Nilholm phát hiện ra, đánh cắp nghiên cứu rồi bỏ trốn. Chắc là thế rồi? Tên khốn này đúng là đồ cặn bã.”
Emma tức giận, ném điện thoại vào túi xách rồi lái xe thẳng đến Zabahlio.
*****
Rocky đang phì phèo điếu thuốc trong phòng hút thuốc thì tay anh ta khựng lại khi thấy trợ lý của mình hớt hải chạy tới.
“Tôi đã có kết quả phân tích cho Điều tra viên Starling rồi ạ”, trợ lý nói.
“Ừm. Tốt lắm.”, Rocky nhận lấy tập hồ sơ rồi nhanh chóng ra hiệu cho cậu ta rời đi.
Rocky đã băn khoăn không hiểu chuyện gì xảy ra khi nghe tin cả đội của Theo đều ra ngoài làm việc, nhưng anh ta chỉ thấy vui vì có thể giúp họ, kể cả khi không tìm thấy thi thể nào. Anh ta đặt tay lên tập hồ sơ để mở khóa, rồi lướt mắt qua kết quả phân tích từ trung tâm nghiên cứu Amalgam.
Thông tin di truyền được trích xuất từ core của Amalgam thu giữ được trùng khớp với dữ liệu của Giorgio Santoro trong cơ sở dữ liệu tội phạm. Báo cáo cũng ghi rõ số sê-ri của Amalgam đã sinh ra core này. Nó rõ ràng đã bị đánh cắp từ chiến trường. Kết hợp với kết quả điều tra của Emma, chừng đó là quá đủ để xin lệnh bắt.
“Hừm. Tin tốt cho thằng nhóc và đội của nó… Ồ?”, Rocky liếc xuống phần cuối của kết quả phân tích và nhíu mày.
Amalgam được thu giữ vẫn đang nhận tín hiệu từ Amalgam gốc. Tài liệu trước mặt anh ta cho thấy cơ thể chính liên tục ra lệnh cho bản sao “bảo vệ.”, Nhưng không rõ là bảo vệ cái gì và khỏi cái gì.