Vol 2 – Chương 4: Vũ khí chiến lược mang tên Bạch Khuyển
Amalgam Hound Vol 2
Tác giả: Komai Mitori
Minh họa: Ozaki Domino
Chương 4: Vũ khí chiến lược mang tên Bạch Khuyển
Khi Theo kết thúc cuộc gọi và quay lại cột trụ nơi Eleven đang đợi, cô quay người lại và mỉm cười với anh. Vải váy hè của cô mỏng nhẹ, đung đưa theo từng cử động. Họa tiết hoa nhiệt đới to bản có phần hơi trẻ con, nhưng có lẽ nhờ phối cùng khăn choàng cổ cổ điển và áo khoác ngắn nhẹ nên tổng thể lại toát lên vẻ không tuổi.
“Ai chỉ cho cô cách phối đồ thế này vậy?”, anh cau mày hỏi.
“Không ai chỉ cả”, cô đáp. “Đây là kết quả của phân tích thống kê.”
Anh đã hy vọng có thể mượn quyển sổ tay hướng dẫn nào đó mà cô dùng, nhưng xem ra không có. Hơi thất vọng, anh đưa điện thoại cho cô và chỉ vào kết quả phân tích từ phòng thí nghiệm.
“Vậy thông tin di truyền trùng khớp rồi nhỉ”, cô nhận xét. “Hoàn hảo.”
“Emma sẽ gia nhập chúng ta như kế hoạch, trên tàu khu trục Calwell”, Theo nói.
“Chúng ta đã biết được thân phận thật sự của Camicia, và cũng có bằng chứng cho tội ác hiện tại của hắn. Việc còn lại chỉ là tìm ra Amalgam.”
“Càng có lý do để tôi dốc toàn lực cho buổi biểu diễn này. Tôi sẽ làm mọi người đồng lòng mời tôi vào salon.”
Cô cười táo bạo rồi hướng về sảnh tiếp đón, anh chậm rãi theo sau cô bạn đồng hành vững chãi của mình.
Sau thủ tục lên tàu ban đầu của ngày đầu tiên, sảnh đã được chuyển thành trung tâm thông tin và quầy lễ tân, chỉ lác đác vài người qua lại. Trong khi khu mua sắm ở boong sáu tấp nập thì nơi đây đúng nghĩa yên tĩnh.
Họ tiến về quầy lễ tân ở một góc sảnh, nơi một người đàn ông mặc đồng phục hơi khác những người khác đón họ.
“Quý khách cần hỗ trợ gì ạ?”, người đó hỏi.
“Đây là Alouette, còn tôi là Theo. Chúng tôi được ông Gino Camicia mời đến.”
“Quý cô Alouette và ngài Theo, vâng? Xin mời đi lối này.”, Nhân viên lễ tân đi vòng ra khỏi quầy, bước nhanh dẫn họ đi trước.
Họ đi lên studio chụp ảnh trên boong bảy. Nơi này nằm cạnh nhà nguyện trên tàu, nhưng có lẽ hôm nay không có ai đặt chụp ảnh cưới hay lễ cưới, họ là khách duy nhất.
“Xin hãy chờ một lát, tôi sẽ gọi ông Camicia.”, nhân viên cúi đầu trang trọng rồi rời khỏi phòng.
Theo và Eleven ngồi cạnh nhau trên ghế sofa, nhân viên studio đặt nước cho họ với nụ cười tươi.
Khi mọi người đã đi khỏi, Theo lẩm bẩm
“Sao lại ở đây nhỉ?”
“Có thể là mượn đồ”, Eleven đoán. “Váy tiệc và váy biểu diễn khác nhau mà.”
“Ờ… chắc vậy, còn buổi diễn…”,
Anh liếc nhìn quanh, nghĩ rằng có lẽ họ sẽ trang điểm luôn ở đây, ánh mắt anh dừng lại ở một núi trang phục và bàn trang điểm đầy mỹ phẩm. Quá dư để chuẩn bị cho một cô gái.
“Là bạn trai Alouette, tôi có nên cản cô không? Cứ như cô bị đem ra làm trò cho mọi người, tôi… thấy hơi lo…”
“Tôi nghĩ bạn trai thì sẽ cổ vũ tôi, coi như cơ hội để vượt qua ám ảnh của bản thân”, Eleven đáp bình thản.
Bao quanh bởi đống váy áo này khiến Theo không thể nào thư giãn, tay anh cứ đan vào nhau rồi lại buông ra trên đùi.
“…Cô sẽ chọn váy nào?”, cuối cùng anh hỏi.
“Phải.”, Cô gật đầu chậm rãi. “Tay tôi nhất định phải để lộ, và một chiếc váy đẹp nhất khi ngồi thì càng tốt. Dáng tôi hợp được một số kiểu thôi. Sao anh hỏi vậy?”
“À… Không có gì. Tại tôi thấy nhiều váy cưới quá nên…”
“Chắc vì ở cạnh nhà nguyện đấy. Mấy chiếc váy này cũng đẹp ghê ha?”
Cô cười rồi bất ngờ nhìn thẳng vào mặt anh. Chạm phải đôi mắt xám mở to của cô, anh vội quay đi.
“Này, Theo?”, cô nhẹ nhàng gọi, giọng đầy ấm áp. “Tôi là bạn gái anh, Alouette đấy. Nếu anh muốn tôi mặc kiểu nào, phải nói với tôi chứ.”
“…Cô nhất định phải để lộ tay à?”
“Phải. Họ muốn tôi khoe phần nhân tạo, với cả mặc tay dài sẽ vướng khi chơi piano. Cái này không thương lượng được.”
“Vậy ít ra đừng mặc hở ngực được không? Làm tôi lo lắm…”
Mấy chiếc váy trước mặt anh toàn kiểu không dây, dạng corset, nhiều chiếc còn táo bạo. Có lẽ studio chọn váy để phục vụ đủ loại khách chứ không riêng ai. Nhưng chỉ nghĩ đến cảnh Eleven mặc mấy chiếc váy đó, anh đã thấy khó chịu không rõ vì sao. Có thể vì cô là một vũ khí, hoặc có thể vì anh vẫn chưa quen đóng giả làm bạn trai cô mà đã phải nghĩ đến chuyện cưới xin. Hoặc có lẽ đơn giản là anh không cảm thấy Eleven hợp với mấy bộ đồ hở hang. Chính anh cũng không rõ.
Cô nghiêng người về phía Theo đang lúng túng rồi bật cười khúc khích.
“Hiểu rồi, anh yêu ngọt ngào của em.”
“…Thôi, gì cũng được.”, anh lắc đầu. “Chọn bộ nào hợp với cô đi, Alouette.”
“Tại sao? Anh hiếm khi đòi hỏi gì ở tôi mà”, cô vừa dứt lời thì cửa mở mạnh ra.
Camicia bước vào, cười rạng rỡ.
“Aaa, thiên thần đã hạ cánh xuống biển đây rồi! Tôi rất vui vì cô đã đồng ý tham gia!”
“Tôi phải cảm ơn vì lời mời chứ”, cô đáp, mỉm cười bẽn lẽn.
“Giờ sẽ thế nào ạ?”
“Đương nhiên là chọn váy rồi”, hắn nói. “Cô ăn gì chưa? Sẽ chơi bản nào vậy?”
“Bọn tôi có ăn trưa rồi”, cô đáp. “Còn bài thì tôi muốn giữ bí mật, hy vọng không sao.”
“Tuyệt vời! Tôi rất mong được nghe. Giờ thì, xin mời chọn trang phục.”, Hắn phẩy tay về phía đống trang phục trong phòng.
“Cô và các nghệ sĩ khác sẽ chia sẻ ánh sáng, thiết bị sân khấu, chúng tôi sẽ lo hết. Giờ thì trang phục trước đã!”
Nhân viên studio hào hứng mang ra hàng loạt váy sặc sỡ cho cô chọn, chỉ trong chớp mắt Eleven đã bị nuốt chửng trong làn sóng quần áo. Theo theo phản xạ nhìn sang Camicia, người đang nhìn cảnh này đầy hứng thú.
“…Tôi tưởng cần họp bàn gì chứ”, Theo nói. “Vậy là xong?”
“Đúng thế.”, Camicia gật đầu niềm nở.
“Tôi vốn định để cô Alouette tự chọn bài, nên chỉ cần chuẩn bị váy và trang điểm sao cho cân xứng với các nghệ sĩ khác là đủ. Như vậy là đủ buổi họp rồi.”
“Nếu ông chắc vậy… Ông định giới thiệu cô ấy với khán giả thế nào?”
“Tôi sẽ nói cô ấy là một nghệ sĩ piano tuyệt vời mà tôi tình cờ gặp trên tàu này. Nếu cô ấy đồng ý, tôi rất mong cô ấy tự chào khán giả và chia sẻ lý do chọn bài.”
Nghe hắn nói, Theo không thể đoán được đây có phải bẫy hay không. Những khách mời khác cũng cho anh cảm giác không có gì nguy hiểm với buổi diễn nhỏ này. Sẽ thật kỳ quặc nếu hỏi thêm, nên anh đành im lặng nhìn Eleven. Có vẻ hôm nay cô thật sự chỉ định chơi piano.
Cô chọn trang phục khá nhanh rồi bước vào phòng thay đồ.
“Anh lo sao?”, Camicia bất ngờ hỏi. Hắn nhìn Theo với nụ cười thân thiện.
“Chắc là tôi có lo. Từ trước đến giờ cô ấy luôn che tay, giờ lại để lộ chúng. Chưa kể sẽ chơi piano trước công chúng. Tôi không biết cô ấy sẽ chơi bài gì, nhưng tay cô ấy dễ gãy lắm. Chúng vẫn còn bất ổn…”
“Anh có biết vì sao cô ấy dùng mẫu tay cũ không?”
“Chuyện đó không phải tôi nên nói.”
“Vậy à. Anh thật trung thành.”, Camicia chỉ gật đầu, có vẻ hài lòng.
Theo khịt mũi nhẹ. “Vậy điều gì ở chúng tôi khiến ông chú ý thế này?”
“Anh nói gì thế?”, Camicia giả bộ ngạc nhiên.
“Hai người có một mối liên kết tuyệt đẹp! Tôi chỉ nói theo cảm giác và kinh nghiệm cá nhân thôi, nhưng tôi nghĩ hai người từng vượt qua bi kịch lớn trong quá khứ. Chính nỗi buồn ấy làm bừng sáng vinh quang của khoảnh khắc hiện tại. Thật tuyệt vời.”
Cách hắn nói nghe khoa trương đến khó chịu, Theo nhăn mặt. Nhưng Camicia vẫn vui vẻ nhìn về phía phòng thay đồ.
“Chẳng phải rất tự nhiên khi muốn mang đến tương lai tươi sáng cho một cặp đôi yêu thương và ủng hộ nhau sao?”, hắn hỏi Theo.
“Nếu mọi thứ mà dễ vậy thì thế giới này đầy pháp sư rồi.”
“Chuẩn ghê!”, Camicia cười sảng khoái.
Tấm rèm phòng thay đồ xịch mở, Eleven bước ra. Tóc cô giờ được buộc gọn gàng, cô ngẩng mặt lên cười với Theo. Chiếc váy xanh biển cô mặc cổ cao, che kín đến cằm, điểm hoa văn lộng lẫy dọc bên phải từ ngực xuống tà. Thiết kế rất hợp với vóc người nhỏ nhắn của cô.
“Thế nào, Theo?”, cô hỏi. “Được chứ?”
“…Ờ. Ừm.”, Anh gật đầu chậm, nhìn cô từ trên xuống. “Cũng ổn đấy. Màu biển cho buổi diễn giữa biển.”
“Tốt. Em sẽ đi đôi giày đang mang luôn. Cho em soi gương được không?”
/* đoạn này xưng Anh -Em vì có người lạ ở gần*/
Nhân viên mang gương toàn thân ra, Eleven quay người lại. Ngay khoảnh khắc ấy, Theo suýt nữa thì phun hết đồ uống.
Chiếc váy cô chọn thực ra không hề cổ cao mà là kiểu yếm hở vai. Phần váy phía sau buông dài, tổng thể rất đẹp. Nhưng lưng váy thì mở toang, phô ra đường sống lưng mảnh khảnh và đường cong mềm mại dẫn xuống hông.
“Khoan đã”, Theo nói. “Chờ chút. Alouette, dừng lại đã.”
“Có chuyện gì vậy?”, Cô ngoảnh lại nhìn anh.
“Phần lưng… hở nhiều quá. Em chắc chứ?”
Ngực cô đúng là kín, và so với váy yếm thì bộ này khá thanh nhã. Nhưng với Eleven, người trước nay gần như không để lộ da thịt, thì vẫn quá sốc. Lúc nhận ra, anh đã bước mấy bước đến gần, còn Eleven thì nhẹ nhàng đẩy anh lại.
“Thiết kế thoải mái ở vai là tốt nhất khi em chơi piano”, cô bảo.
“Với cả bộ này đẹp thật. Em thích nó. Em còn vui vì họ có sẵn váy hợp với thân hình em.”
“…Nếu em vui thì… cũng tốt…”, Anh nói ngập ngừng.
“Đủ quyến rũ để khiến anh hoảng lên đúng không? Hoàn hảo rồi.”, Nụ cười tinh nghịch của cô mang nét hồn nhiên đúng với tuổi. Anh không biết tuổi thật của cô, nhưng nụ cười ngây thơ ấy khiến tim anh như thắt lại.
Anh hắng giọng rồi bước ra ngoài, để mọi thứ còn lại cho nhân viên. Một khi bắt đầu trang điểm, anh chẳng còn việc gì làm, mà Camicia dường như cũng tỏ ra đúng mực với vai trò ban tổ chức. Eleven có thể tự xử lý hắn. Huống hồ, nếu cô đã ăn diện như vậy, anh cũng sẽ phải mặc quân phục chỉnh tề cho tương xứng.
*****
Dừng xe ở cảng Zabahlio, Emma khoác túi lên vai rồi bắt đầu chạy. Một người đàn ông mặc đồng phục An ninh Hải quân vẫy tay chào cô.
“Điều tra viên Canary”, anh ta gọi. “Chào mừng cô.”
“Cảm ơn! An ninh cũng có mặt trên con tàu này sao?”, cô hỏi.
“Không, tôi chỉ mang giấy tờ cô yêu cầu và dẫn cô đi tham quan thôi. Tôi mang theo hồ sơ về các vụ tai nạn xảy ra ở những vùng biển cụ thể mà cô đã nhắc đến. Tôi sẽ giải thích khi đi.”
Anh ta nhanh chóng rảo bước về phía cầu cảng, buộc Emma phải lật đật chạy theo sau.
“Cảm ơn anh. Vụ tai nạn đầu tiên xảy ra hai tháng trước, đúng không?”
“Đúng vậy. Trong vòng hai tháng qua, các vụ tai nạn xảy ra không theo quy luật nào cả. Thời tiết không có gì đáng chê trách, vậy mà tàu vẫn bị lật úp. Thủy thủ trên boong bị sóng cuốn trôi. Chúng tôi đã nhận được nhiều báo cáo về những sự việc khó hiểu. Xin hãy xem chi tiết trong tài liệu.”
“Có sinh vật ma thuật hay mối nguy hiểm phép thuật nào không?”
“Chúng tôi không xác nhận được gì thuộc dạng đó. Không có báo cáo nào về sinh vật ma thuật ở gần. Các con tàu bị hư hại đều mất thiết bị dò tìm trong tai nạn, nên chưa rõ có vũ khí ma thuật nào liên quan hay không.”
“Được rồi. Chúng tôi sẽ kiểm tra khu vực đó bằng thiết bị dò của tàu khu trục.”, Cô ghi chú điều đó vào đầu.
“Còn Jikunokagu thì sao?”
“Cái tên đó không xuất hiện liên quan đến các vụ việc”, viên sĩ quan an ninh nói.
“Nhưng có một nạn nhân từng vay một khoản lớn với mục đích mua một bộ phận giả bất hợp pháp. Đó là thuyền viên bị thương trong vụ tai nạn thứ hai. Chúng tôi đã đính kèm bản ghi âm cuộc phỏng vấn, cô hãy nghe nó trên tàu.”
Anh ta dần tăng tốc độ bước, trả lời công việc rất gọn ghẽ, trong khi Emma thì thở hồng hộc để theo kịp. Cuối cùng, anh ta dừng lại, và cô mới có thể thở phào. Anh ta đưa cho Emma tập hồ sơ rồi nghiêm chỉnh cúi chào theo kiểu hải quân.
“Đây là tàu khu trục Calwell”, anh ta nói.
“Chúc cô điều tra thuận lợi.”
“Cảm ơn… anh nhiều…”
Họ chưa đi xa lắm, vậy mà cô đã mệt rũ người, chỉ vừa kịp cảm ơn thì người của An ninh Hải quân đã rời đi nhanh như lúc đến.
Thuyền trưởng tàu Calwell bước ra đón cô. “Cô là Điều tra viên Canary? Tôi được báo cô sẽ tham gia cùng chúng tôi.”
“Thuyền trưởng!”, Cô mỉm cười với ông. “Xin lỗi vì đã đường đột lên tàu. Chúng tôi thật sự rất cảm kích vì sự hợp tác này.”
“Không có gì đâu.”, Thuyền trưởng lắc đầu. “Chúng tôi cũng đang lo lắng về các vụ tai nạn ở khu vực biển đó. Nếu cô có manh mối để giải quyết, chúng tôi rất sẵn lòng hỗ trợ. Cầu lên tàu hơi lắc, xin hãy nắm tay tôi. Cẩn thận bước nhé.”
Emma không ngại nhận lời đề nghị của ông và bước lên tàu khu trục Calwell. Sau khi thuyền trưởng giới thiệu sơ lược về thủy thủ đoàn và các cơ sở vật chất, ông dẫn cô đến một phòng họp nhỏ. Một chiếc bàn và ghế đặt trước bảng trắng, còn có cả nước uống và giường đơn giản.
“Xin hãy dùng phòng này làm căn cứ điều tra”, ông nói.
“Thật sự cảm ơn mọi người rất nhiều. Tôi hứa sẽ làm hết sức để tìm ra chuyện gì đang xảy ra.”
“Đã cùng chung mục tiêu tìm ra sự thật thì tất nhiên chúng ta sẽ hợp tác. Con tàu này sẽ đuổi theo Havmonet với tốc độ bốn mươi hải lý. Cô có thể cảm thấy tàu hơi lắc, nên hãy bám tay vào lan can khi di chuyển.”
“T-tôi hiểu…”
Cô ngồi phịch xuống ghế, thở ra một hơi dài. Chỉ mới lên tàu mà cô đã kiệt sức, nhưng ít nhất cũng có hy vọng sẽ gặp lại Theo và mọi người.
Khi Emma kiểm tra báo cáo của An ninh Hải quân, cô thấy rằng tất cả các tàu đều hoặc bị mắc cạn hoặc chìm, ngoài các thuyền viên bị thương còn có nhiều người chết và mất tích. Nguyên nhân tai nạn đều không rõ ràng; không vấn đề gì với thời tiết, thiết bị tàu hay chính con tàu.
Vụ đầu tiên là một tàu khảo sát bị hư hại nặng khi mắc cạn do bão đêm. May mắn là không ai bị thương, nhưng phần đuôi tàu bị vặn xoắn một cách kinh khủng. Thủy thủ đoàn kể rằng một con sóng lớn ập lên tàu, và khi nó rút đi, nửa con tàu biến mất.
Tiếp theo là một tàu đánh cá. Buổi sáng sớm, trời quang đãng, biển lặng. Họ đang đánh cá bình thường, nhưng khi tiến gần khu vực đó, một con sóng lớn bất ngờ đánh úp, lật tàu rồi nhấn chìm nó. May mắn thay, toàn bộ thủy thủ đều mặc áo phao, nên không ai chết, chỉ có một người bị thương. Trong số những người dùng bộ phận giả, chỉ mình anh ta bị mất bộ phận.
Trong cuộc phỏng vấn, nạn nhân nói rằng trước đây anh ta từng bị cá mập tấn công và mất chân phải, sau đó chỉ dùng chân gỗ. Thuyền trưởng đã tạm ứng lương để anh ta lắp bộ phận giả, nhưng anh ta lưỡng lự rồi quay về quê ở Yunilska. Cuộc sống ở nhà rất nghiêm khắc, khó xoay xở để lắp bộ phận giả. Anh ta đã tham gia một lễ tưởng niệm cho ông nội từng phục vụ hải quân và cũng mất chân phải vì biển.
Ở đó, anh ta gặp một người đàn ông. Cái tên Jikunokagu không được nhắc đến, người đó cũng không phải Camicia, nhưng hợp đồng anh ta ký hoàn toàn trùng khớp với bản Brouwers ký. Chiếc chân mà anh ta mất trong vụ tai nạn trên biển không chỉ là bộ phận giả thông thường, mà còn là một phần Amalgam hoạt động như bộ phận thay thế.
Không ai biết bản chất thực sự của con sóng đã đánh úp con tàu. An ninh Hải quân đã điều một tàu cần cẩu đến hiện trường để trục vớt xác tàu, nhưng dù tìm kiếm bao lâu cũng không thấy gì.
Họ từng nghĩ đó là một tai nạn riêng lẻ, nhưng sức mạnh bí ẩn vẫn tiếp tục kéo tàu và người xuống đáy biển ở khu vực này, gây ra vô số nạn nhân.
Tàu khảo sát mắc cạn trong bão có mang vũ khí ma thuật vì họ đang quan sát sinh vật ma thuật. Chân phải của nạn nhân mất đi là một Amalgam biến đổi thành bộ phận thay thế, và tàu đánh cá thì biến mất hoàn toàn.
“Hmm.”, Emma ngước lên nhìn trần nhà.
Amalgam dưới đáy biển muốn sản xuất lõi hàng loạt hiệu quả. Nhưng không có vật liệu quanh đó, nó buộc phải dùng chính cơ thể vật lý của mình. Rồi một cơn bão ập đến. Amalgam bị cuốn lên mặt nước trên những đợt sóng dữ và thu hồi được vũ khí, thiết bị ma thuật tìm thấy. Sau khi biết việc tấn công tàu sẽ hiệu quả hơn, Amalgam đã nhấn chìm con tàu tiếp theo đi ngang qua, nhưng trên tàu đó lại tình cờ có một người dùng proxy. Nếu Amalgam có thể đánh đắm tàu và thu hồi vật liệu, thì có lẽ nó cũng đã thu hồi cả proxy. Với lần thứ hai thành công, Amalgam hẳn đã lên kế hoạch thu thập vật liệu hiệu quả hơn.
Nghĩ đến đây, Emma cau mày, nghiêng đầu sang một bên. Có lẽ cô đang suy diễn hơi xa.
Giới hạn của Amalgam là khi lõi bị lộ ra, đúng không? Giỏi lắm thì nó cũng chỉ di chuyển lên xuống trong nước, nên các cuộc tấn công chỉ có thể xảy ra ở một khu vực cố định. Nếu vậy, thông tin nhân chứng mà Tobias thu thập về con tàu khả nghi phải tập trung ở một vị trí cụ thể… Có thể Amalgam đã học được vài mánh khóe gì đó.
Đầu bắt đầu nhức, cô gấp hồ sơ lại, đúng lúc điện thoại ping lên thông báo. Cô nhìn xuống và thấy một bức ảnh từ Eleven gửi.
Bức ảnh là Eleven đang ngồi trên ghế, mỉm cười, mặc một chiếc váy xanh biển, còn Theo đứng bên cạnh trông có vẻ nghiêm túc. Theo như Emma đoán, dựa trên bối cảnh và cái ghế, họ thậm chí đã mất công chụp ảnh trong studio.
Khuôn mặt Emma bất giác giãn ra thành một nụ cười, cô nhắn lại “Cảm ơn nhé”, kèm vô số emoji hình trái tim. Cô sẽ làm rõ vụ này. Và điều đầu tiên cô làm là viết tất cả những gì họ biết lên bảng trắng để sắp xếp lại mọi thứ.
*****
Sảnh chính trông khác hẳn so với buổi tiệc chào mừng trước đó, lần này được trang trí ấm áp theo phong cách một khu vườn. Ngoài sắc xanh chủ đạo, hoa và ruy băng đủ màu sắc tô điểm khắp nơi. Bàn ghế đều được sơn trắng đồng nhất, còn thảm thì xanh đậm, tạo cảm giác như một bãi cỏ xanh mượt. Trên mỗi bàn đều có những bó hoa từ ba quốc gia nơi chuyến lưu diễn sẽ dừng chân, được thắp sáng bằng những ngọn nến có hình dạng quốc kỳ.
Khác với buổi tiệc chào mừng, sự kiện này là nơi để mọi người thưởng thức các tiết mục biểu diễn và vui chơi. Có lẽ vì vậy mà có nhiều trẻ em và người lớn tuổi hơn, bầu không khí nhìn chung cũng thoải mái và thân mật hơn.
Một sân khấu đã được dựng lên phía trước, trên đó đặt một cây đàn piano. Trong khu vực hậu trường ngăn cách riêng, các nghệ sĩ biểu diễn, bao gồm cả Eleven, đang chờ đến lượt.
Theo đang nhìn về phía khu hậu trường, nhưng quay lại khi một ly nước được đặt xuống bàn.
Tobias rót cho cậu một ít nước có ga, mỉm cười: “Nôn nao chờ nghe cô ấy chơi đúng không?”
“Ừm.”, Theo định gật đầu đồng ý, rồi khựng lại.
“Khoan. Thế còn Camicia và đám người của hắn thì sao?”
“Bọn họ ngồi cách sân khấu một đoạn. Nguyên cả nhóm. Chiếm ba bàn liền.”
Tobias liếc mắt về phía đó, Theo cũng nhìn theo. Họ đang ngồi chuyện trò quanh những bàn tròn sáu người. Vẫn là những gương mặt Theo đã thấy ở buổi tiệc trước.
“Vậy đây cũng là buổi ra mắt của hội đồng à”, anh nói.
“Xem ra vậy”, Tobias đáp. “Dù sao tôi cũng sẽ để mắt đến bọn họ.”
“Nhờ anh đấy. Nếu họ có động tĩnh gì, báo tôi ngay.”
Tobias rời đi, còn Theo nhìn quanh hội trường lần nữa thì bất giác đứng dậy. Trung tướng Cormolone và phu nhân đang đi về phía cậu.
“Tôi không ngờ ngài cũng đến đây”, Theo nói. “Tôi hơi bất ngờ đấy.”
“Đây là khoảnh khắc quan trọng của Alouette mà. Không thể bỏ lỡ được”, Cormolone nói đầy ấm áp.
“Con bé đã ở hậu trường rồi chứ?”
“Rồi ạ.”, Theo gật đầu. “Tất cả nghệ sĩ đều đang chờ trong cánh gà. Họ sẽ quay lại chỗ ngồi sau khi biểu diễn xong.”
Ghế bên cạnh Theo có tấm biển ghi “CÔ ALOUETTE”. Các bàn khác cũng chừa ghế trống như vậy, xung quanh đã có người ngồi đầy.
Cuối cùng, sự kiện bắt đầu với lời chào mừng của ban tổ chức. Chương trình tiếp nối với nhiều tiết mục khác nhau, một tứ tấu đàn dây, một ca sĩ guitar, một ảo thuật gia, những màn nhào lộn. Một số nghệ sĩ có chi giả, Theo đoán họ đều là ứng viên tiềm năng cho lời mời vào salon.
Rồi Alouette bước ra sân khấu. Chiếc váy dệt chỉ ánh kim lấp lánh dưới ánh đèn. Mái tóc bạch kim và thiết kế mát lạnh của váy càng làm nổi bật vẻ đẹp của cô.
Nhưng thứ thu hút ánh mắt khán giả lại chính là đôi tay của cô. Chi giả thuộc dòng cũ đến mức không chỉ lỗi thời mà còn gần như trở thành đồ cổ. Ngón tay còn không có lớp da nhân tạo, để lộ ánh kim loại xỉn màu. Làn da gần như trong suốt của cô đối lập hoàn toàn, khiến nhiều người sững sờ.
Đứng trước micro, Alouette nhấc váy dài quá gối lên chút rồi cúi chào. Lớp trang điểm sân khấu càng làm nổi bật vẻ đẹp lạnh lùng của cô.
“Xin chào mọi người.”, Giọng cô vang lên.
“Tôi là Alouette Cormolone. Tôi chưa từng làm gì như thế này nên có hơi lo lắng. Nhưng tôi thật sự biết ơn ngài Camicia đã cho tôi cơ hội được chơi đàn trước nhiều người như thế. Sau khi có đôi tay này, tôi đã không ra mắt xã hội và cũng chưa từng biểu diễn ở đâu, nên điều đó có chút buồn.”
Cô kể điều đó bằng nụ cười, nhưng khóe miệng hơi cứng lại — dấu hiệu của sự căng thẳng. Các khớp cơ khí của đôi tay đan trước ngực phát ra âm thanh ken két.
“Tôi biết mọi người hẳn rất ngạc nhiên khi thấy đôi tay này. Chúng rất cũ kỹ, đúng không? Tôi đã được khuyên nên mua tay mới rất nhiều lần, nhưng… đây là món quà cuối cùng cha mẹ tôi tặng trước khi họ hy sinh trong chiến tranh. Họ từng rất thích nghe tôi chơi piano, nên tôi thực sự vui mừng khi có thể biểu diễn tại đây với món quà ấy.”
Một làn sóng xúc động lan qua khán giả. Họ ngay lập tức nghĩ đến nỗi đau mà cô gái giấu sau nụ cười kiêu sa ấy, có người còn thở dài cảm thông.
“Rất nhiều người trong chúng ta đã từng trải qua sự khủng khiếp của chiến tranh, và giờ chúng ta tụ họp để cầu nguyện cho hòa bình và tình hữu nghị. Vì vậy, tôi muốn chơi một bản nhạc rất quan trọng. Mong mọi người sẽ lắng nghe trọn vẹn.”
Alouette cúi chào lần nữa để kết thúc bài phát biểu. Khi cô ngồi xuống ghế đàn, đôi tay máy kéo dài từ đôi vai mảnh khảnh càng nổi bật hơn, và gương mặt như búp bê của cô càng trở nên nghiêm túc.
Khán giả nín thở khi cô bắt đầu chơi giai điệu đặc trưng.
Khúc dạo đầu rộn ràng chuyển sang không khí trang nghiêm, giai điệu thể hiện sự cô độc nơi vực sâu của cái chết.
Suite Filigrasch số 4 của Staden, Thiên Nga của Lethe.
Chương thứ tư của suite tái hiện vòng tuần hoàn sinh tử qua truyền thuyết xưa, câu chuyện về một con thiên nga hấp hối, cõng những linh hồn lạc lối trên lưng và bay về chân trời lãng quên.
Những linh hồn thoát khỏi đau khổ của kiếp sống, không tìm được lối đi tiếp, sẽ được thiên nga đón lên rồi chở đi thật xa. Nỗi buồn vì sống trong đau đớn, niềm vui vì cái chết mang lại giải thoát, bản piano này gom cả hai thái cực cảm xúc ấy trong giai điệu ám ảnh, vốn đặc biệt được quân đội và hải quân yêu thích.
Trong trận vây hãm pháo đài Vartza, quân lực của bốn quốc gia tranh giành quyền lực. Quân đội của quốc gia nhỏ nhất bị hao mòn lực lượng và lương thực đến mức không còn đủ sức giữ nhà thờ, pháo đài cuối cùng.
Những binh lính ở đó buông vũ khí, từ bỏ chiến đấu và chơi khúc nhạc này. Thiên Nga của Lethe vang lên, khiến binh lính mọi phe đều dừng tay. Trong suốt năm phút bốn mươi giây, trên chiến trường của Vartza, chỉ còn lại tiếng piano.
Câu chuyện ấy được truyền tụng như phép màu trong cuộc đại chiến lục địa. Và phần kết u ám: những binh lính sống sót trở về, rồi bị điều ra tiền tuyến phương Bắc, chết trận như thể không thể tránh khỏi bàn tay lạnh lẽo của Thần Chết.
Bằng tài nghệ đặc trưng, Staden đã biến bản nhạc thành tiếng thở than cho sự giải thoát khỏi đau khổ và sinh mệnh, thường được chơi trầm lắng, gợi lên tuyệt vọng, chính vì vậy mà binh lính đã buông vũ khí, lắng nghe.
Thế nhưng Thiên Nga của Lethe do Alouette chơi lại mang một ánh sáng mơ hồ, làm nổi bật niềm vui khi được giải thoát, thoát khỏi những ràng buộc đau đớn, hy vọng được lãng quên ngọt ngào. Cô gái sống động ấy tung tăng lướt ngón tay trên phím đàn, trao gánh nặng cho đôi cánh thiên nga. Dù vang lên dư âm đau thương, khúc nhạc vẫn toát lên sức mạnh thiên nga dấn bước trước ranh giới sinh tử. Biết bao hạnh phúc khi quên hết khổ đau và tan biến vào bầu trời!
Cô gái được chúc phúc từ khi sinh ra, có tương lai tươi sáng trước mắt, dệt giấc mơ ấy vào từng nốt nhạc với đôi tay máy cũ kỹ đến mức ai cũng ngạc nhiên khi chúng không gãy vụn. Bản nhạc khó đến mức số nghệ sĩ chuyên nghiệp chơi được đếm trên đầu ngón tay, vậy mà mọi người chỉ biết nín thở lắng nghe.
Khi nốt cuối cùng do đôi tay kim loại ấy vang lên rồi tan vào im lặng, cả khán phòng bùng nổ trong tiếng hò reo và vỗ tay.
Ngẩng đầu lên, Alouette mỉm cười hạnh phúc. Cô đứng dậy cúi đầu thật sâu trước khán giả. Những ngón tay trên đôi bàn tay máy lủng lẳng, để lộ những khớp nối và dây dẫn lỏng lẻo.
Khi mọi tiết mục đã xong và phần tiệc bắt đầu, Alouette bị mọi người vây quanh. Một đứa bé bảo rằng mình cũng chơi piano và xin bắt tay cô, Alouette vô cùng xúc động, cúi xuống nhìn thẳng vào mắt đứa bé, nắm chặt tay nó bằng cả hai bàn tay máy. Hai nụ cười đối diện nhau thật ấm lòng.
Khán giả đứng nhìn từ xa không ngớt xuýt xoa:
“Tôi không tin nổi cô ấy có thể chơi trọn Thiên Nga của Lethe với đôi tay ấy!”
“Liệu cô ấy có lấy đây làm bàn đạp để thi đấu không nhỉ? Tài năng thế này giấu kín thì phí quá.”
Theo để mặc những lời khen ngợi vang bên tai, khẽ nói với Trung tướng Cormolone:
“Ngài chắc chứ, việc để cô ấy nhận mình là cháu và kể về bản thân như vậy?”
“Thì Alouette đúng là mất cha mẹ trong chiến tranh, rồi thay tay máy mà. Con bé chẳng nói gì sai cả. Tôi hoàn toàn đồng ý”, Trung tướng cười hiền.
Ông nói đúng, nhưng không hiểu sao Theo vẫn cảm thấy khó chịu, nhíu mày lại.
Liddy cười giòn giã, nhìn về phía Alouette:
“Thật sự rất tuyệt. Một màn trình diễn hoàn hảo, đúng như con bé tính toán, nhỉ?”
“Có lẽ vậy. Và với phản ứng khán giả, tôi nghĩ con bé sẽ nhận được lời mời.”
Theo liếc mắt về phía Camicia. Hắn vẫn đang trò chuyện với đám bạn, cười rạng rỡ, mắt dán chặt vào Alouette. Nếu nhóm ngồi với hắn là hội đồng Jikunokagu, thì xem ra mọi chuyện suôn sẻ.
“Vấn đề duy nhất có lẽ là thời điểm tổ chức salon.”
“Đúng thế”, Cormolone gật đầu. “Phải đợi sáng mai mới biết chắc. Chắc chắn sẽ là ngày mai hoặc muộn hơn.”
Lệnh sẽ được gửi tới vào bữa sáng ngày salon. Dù không nhận được thư mời, Theo cũng sẽ biết ngay khi thấy ánh mắt lấp lánh của Tobias.
Phía Jikunokagu không có động tĩnh gì suốt buổi, sự kiện khép lại êm đềm đến hụt hẫng.
“Cô học chơi piano thế này ở đâu vậy?”, Theo hỏi trên hành lang, lúc cả hai trở về studio chụp hình.
“Không nói đâu. Nhưng bản nhạc đó hoàn hảo đúng không?”, Alouette, không, đúng hơn là Eleven, đáp, giọng xen lẫn tiếng cười.
Khúc Thiên Nga của Lethe thấm đẫm bi thương ấy đã lay động khán giả, khiến họ đọc được nhiều tầng nghĩa trong lựa chọn của cô. Một cô gái mang nỗi đau, không nỡ vứt bỏ đôi tay kỷ vật cha mẹ để lại, cũng không thể đường hoàng ra sân khấu với chúng. Cô thấy ánh sáng hy vọng nơi Thiên Nga của Lethe, khao khát quên hết tất cả để được tự do.
“Cô thật sự muốn tự do đến mức sẵn sàng quên cả bạn trai sao?”, Theo tò mò hỏi.
“Ồ. Anh thật là, sao lại giải thích ác ý thế?”, Cô cười tinh quái. “Cũng như anh không quên được em gái, tôi cũng không thể quên cha mẹ mình. Có những thứ không thể nào quên được. Thiên Nga của Lethe mang đến sự giải thoát khỏi điều ấy bằng món quà lãng quên. Tuyệt vời chứ, vì nó nói rằng ta không phải tiếp tục đau khổ nữa.”
“Tôi không chắc”, Theo thành thật đáp. “Có lẽ tôi không muốn quên vì tôi chấp nhận chịu khổ.”
“Trời ơi.”, Eleven bật cười, như thể bất lực.
Đúng lúc đó, một giọng nói vang lên gọi họ dừng bước. Khi họ quay lại, Camicia đang đứng đó.
“Xin lỗi vì đến muộn mới chúc mừng cô”, hắn bước đến gần. “Cảm ơn cô rất nhiều vì buổi biểu diễn tuyệt vời, cô Alouette. Tôi và bạn bè đều rất xúc động.”
“Đó là vinh dự của tôi. Cảm ơn ông đã cho tôi cơ hội.”
“Thật tuyệt vời. Tôi chắc chắn bản nhạc tuyệt đẹp ấy đã chạm đến trái tim nhiều người, họ đã thấy được cả những điều ẩn sau đôi tay đã mất. Tôi rất mong được bày tỏ lời cảm tạ này.”
“Trời ơi!”, Cô lắc đầu. “Lời khen của ông đã là món quà lớn rồi.”
“Xin đừng nói vậy… À, này mấy cậu kia. Ra chỗ khác giùm tôi nhé?”, Camicia nói với những nhân viên vừa bước vào studio chụp hình.
*****
Họ trông có vẻ bối rối, nhưng cuối cùng vẫn rời khỏi phòng sau khi chỉ tay về phía máy điện thoại nội bộ và bảo anh gọi khi xong việc trong phòng thu.
Camicia ra hiệu cho Theo và Eleven ngồi xuống ghế sofa trước khi ông ta ngồi xuống ghế đối diện.
“Dù vẫn chưa được quyết định chính thức, nhưng thực tế thì chuyện này gần như chắc chắn rồi”, ông ta bắt đầu.
“Nên tôi muốn nhờ hai người giữ trống thời gian trong lịch của mình. Hai người có thể rảnh khoảng hai tiếng vào ba giờ chiều mai không?”
“Vâng, tôi nghĩ chúng tôi có thể sắp xếp được. Ông đang mời chúng tôi uống trà chiều sao?”, Eleven nghiêng đầu hỏi.
“Đúng vậy, tôi cho là cũng có thể gọi như thế.”, Camicia tươi cười.
“Thật ra, tôi tổ chức một buổi HỌP MẶT, tụ họp những người bạn thân thiết của mình. Tôi có thể mời cả hai người tham gia được không?”
Đây rồi.
Đằng sau vẻ mặt nghiêm nghị, Theo nghiến răng. Eleven liếc nhìn anh, gương mặt thoáng vẻ bối rối.
“Nhưng đây là buổi tụ tập bạn bè của ông sao?”, cô nói.
“Ông chắc chắn là chúng tôi không làm phiền chứ?”
“Dĩ nhiên!”, Camicia khẳng định.
“Chúng tôi rất hân hạnh được đón tiếp cô, cô Alouette. Buổi salon của tôi, chúng tôi cùng nhau thư giãn, trò chuyện về nhiều thứ trong khi dùng chút đồ ăn nhẹ. Đây là nơi quý giá để chia sẻ những món đồ hữu ích từ những nơi chúng tôi đã đi qua.”
“Ô. Ý ông là quà lưu niệm sao?”
“Hơn cả quà lưu niệm.”, Ông ta dừng lại, như để tăng kịch tính.
“Chúng tôi có những sản phẩm được mua qua những con đường đặc biệt, và tại salon, chúng tôi chỉ giới thiệu những món đồ tuyệt vời ấy cho những người bạn tin cậy có mặt. Tôi nên nói thêm là những người cảm thấy hạn chế vì các bộ phận giả thường rất vui mừng với những món đồ này.”
Đôi mắt Eleven mở to, và Theo khẽ hắng giọng đầy ẩn ý.
“Chẳng phải nghe như một trò lừa đảo đa cấp sao?”, anh ngắt lời.
“aNH hiểu nhầm rồi”, Camicia đáp. “Chà, chúng ta mới chỉ gặp nhau trong chuyến đi này nên tôi chưa có cơ hội để ANH tin tưởng. Nhưng cá nhân tôi rất muốn giới thiệu riêng cho cô Alouette một sản phẩm đặc biệt.”
Camicia khẽ cười gượng với Theo rồi nhanh chóng quay lại nhìn Eleven.
“Cô chắc hẳn rất giỏi mới có thể biểu diễn như vậy dù chỉ dùng những bộ phận giả đời cũ, nên tôi không thể không mong cô được tự do biểu diễn mà không bị ràng buộc. Cô hoàn toàn có thể thay thế những bộ phận này bằng một thứ hiệu năng cao hơn mà vẫn giữ nguyên vẻ bề ngoài. Tôi có một sản phẩm có thể giúp cô lấy lại chính đôi tay của mình.”
“Lấy lại… tay của tôi sao?”, Eleven ngơ ngác, Camicia nheo mắt.
“Cô Alouette, tôi tin rằng cô có thể làm chủ bất cứ bộ phận giả nào. Nhưng ngay cả những bộ phận tiên tiến nhất vẫn không thể truyền tải được cảm giác như xúc giác hay nhiệt độ.”
“Tôi biết rõ giới hạn của công nghệ.”
“Nhưng! Với sản phẩm mà chúng tôi cung cấp, những cảm giác ấy sẽ trở lại với cô, cô Alouette. Cô còn nhớ cảm giác phím đàn cứng dưới những ngón tay mình? Cảm giác nắm tay ai đó? Cái lạnh của tuyết, hơi ấm của ánh nắng mùa hè?”, Camicia chậm rãi kể.
“Cô có thể cảm nhận lại mọi thứ đã trở thành ký ức xa xăm. Nếu cô có thể lấy lại tất cả những gì mình đã từ bỏ… thì sao? Cô nghĩ thế nào?”
Trước khi Theo kịp xen vào, Eleven đã nghiêng người về phía trước.
“Có thể thật sao? Tay tôi thật sự sẽ trở lại sao?”
“Đừng, Alouette”, Theo nói, giọng căng thẳng. “Chuyện đó không thể nào có thật được.”
“Nhưng nếu tôi không thử thì sao biết được?”, cô phản đối.
“Nhưng nếu em không thể quay lại—?”, anh bắt đầu, nhưng cô ngắt lời anh, giọng đầy khao khát.
“Em đã không thể quay lại rồi! Em đã phải từ bỏ quá nhiều thứ!”
Theo đặt tay lên vai cô, nhưng Eleven hất tay anh ra. Đôi mắt xám của cô đã đẫm nước.
“Anh biết có bao nhiêu người nói lời an ủi rồi lại khinh thường cánh tay máy của em không? Ba mẹ em muốn điều tốt nhất cho em, nên họ đã cho em tay mới, nhưng cuối cùng chẳng ai chấp nhận em cả! Ngay cả ba mẹ em, cuối cùng họ cũng không muốn chạm vào nó, bảo rằng tay em quá lạnh. Em chẳng thuộc về đâu cả. Anh biết cảm giác trống rỗng đó như thế nào không? Biệt thự của gia đình, tất cả—mọi thứ đã cháy rụi rồi, và sợi dây duy nhất nối em với ba mẹ chính là đôi tay này. Em muốn trân trọng nó, nhưng anh có biết những ký ức ghê tởm mà đôi tay lạnh lẽo này gợi lên không?!
”
Theo cố thêm lần nữa.
“Nhưng Alouette, chỉ đơn giản chấp nhận câu chuyện này—”
“Đừng đối xử với em như một đứa trẻ nữa!”, cô gắt. “Thật khổ sở.”
Camicia khẽ kêu lên, còn Theo thở dài nặng nề.
“Anh không coi em như trẻ con”, Theo nói. “Anh chỉ nói vậy vì anh yêu em—”
“Nếu thật sự yêu em, sao anh lại ngăn em? Nếu có thể quay lại thời gian có đôi tay thật, em sẽ làm ngay lập tức. Em muốn những ngón tay không bị bung ra khi chơi piano. Em muốn đi trên phố mà không phải nghe những lời xì xào. Em muốn không phải lo lắng về dây nối hay ốc vít bị lỏng. Và…”
Một giọt nước mắt lăn trên má cô.
“Em muốn thật sự nắm tay anh. Em muốn cảm nhận hơi ấm của lòng bàn tay anh, những ngón tay anh…”
“Alouette”, Giọng Theo khản đặc.
“Xin lỗi ngài Camicia, vì tôi đã mất bình tĩnh. Tôi xin ra ngoài một lát.”, Cô lau má rồi rời đi mà không chờ phản hồi.
Camicia đưa tay che miệng, vẻ ái ngại khi nhìn cô đi. Nhưng ngay trước đó, Theo chắc chắn đã thấy khóe miệng ông ta khẽ nhếch lên.
“Xin thứ lỗi cho Alouette”, Theo nói. “Đó là mặc cảm cô ấy đã mang trong lòng nhiều năm.”
“Không, không.”, Camicia lắc đầu.
“Tôi mới phải xin lỗi. Tôi đã thiếu suy nghĩ. Nhưng đề nghị của tôi là thật. Tôi rất mong được giới thiệu sản phẩm của chúng tôi cho cô ấy. Cô ấy là một người tuyệt vời, và càng xứng đáng hơn nếu đây là điều cô ấy đã khổ sở trong nhiều năm.”
Camicia dịch người, tiếp tục với giọng thân thiện.
“Nhưng tôi thực lòng mong mọi người đến salon đều được thoải mái. Thực tế, sau khi giới thiệu sản phẩm, nhiều người vẫn thường bàn bạc hợp đồng và chi tiết sau sự kiện. Về chuyện bộ phận giả của cô Alouette, dường như cả cô ấy và anh cũng có những cảm xúc phức tạp, nên có lẽ tốt nhất chúng ta chỉ nên trò chuyện khi tham gia salon thôi. Quyết định có thể để sau. Tất nhiên, cả hai cũng có quyền không tham gia. Tôi để quyền lựa chọn cho các bạn.”
“Vâng.”, Theo chậm rãi gật đầu. “Vậy thì, có lẽ chúng tôi sẽ nhận lời mời của ngài.”
“Tuyệt vời! Tôi sẽ cho gửi thiệp mời kèm báo buổi sáng ngày mai. Nếu muốn tham dự, xin hãy mang theo thiệp và tới salon ở khoang số sáu. Chúng tôi sẽ đợi.”, Camicia đứng dậy, vẻ rất hài lòng.
“Tôi phải trao đổi với nhân viên, vậy xin phép. Xin gửi lời hỏi thăm của tôi tới cô Alouette.”
“Vâng. Cảm ơn ngài.”, Theo chờ đến khi Camicia nhấc máy rồi mới đi tìm Eleven.
Tấm rèm phòng thay đồ mở ra, Eleven ló đầu ra, má đã khô.
“Lúc nãy có lố quá không?”, cô hỏi.
“Có vẻ như hiệu quả đấy.”, Theo mỉm cười với cô. “Chúng ta sẽ để Tobias kiểm tra đồ ăn nhẹ.”
“Tốt quá. Toi6 đã hơi gồng để đẩy mọi chuyện theo hướng đó, nhưng nếu có kết quả thì còn gì bằng.”, Cô quay lưng lại anh, với tay ra sau cổ để mở khóa.
Anh vội vàng kéo rèm lại và ngồi xuống ghế gần đó.
“Màn diễn vừa rồi tốt đấy. Cô còn biết khóc cơ à?”
“Tôi chỉ làm ra vẻ thôi. Tôi có thể tạo và tiết ra bất cứ thứ gì chỉ với công thức hóa học đơn giản.”
Trong giây lát, Theo sững người, không theo kịp. Anh chưa bao giờ nghĩ hóa học lại liên quan đến chuyện nước mắt.
“Ý cô là cô có thể chảy nước mắt, thổi khí helium ra để bơm bóng bay, rồi trong một hơi thở nhả khí độc chết người?”, anh hỏi cuối cùng.
“Về lý thuyết, đúng vậy. Nhưng vẫn cần nghiên cứu để xem có thực sự hiệu quả trong chiến đấu không.”
Chẳng trách cô có thể tự nhận mình là vũ khí chiến đấu độc nhất. Anh nhận ra hơi thở mình trở nên nặng nề vô cớ, liền nới lỏng cổ áo và thở dài.
*****
Vì chuẩn bị đi ngủ sớm để sẵn sàng cho ngày mai, Tobias giật mình khi nghe thấy tiếng gõ cửa phòng. Anh vội vã mở cửa và thấy Tarja đang đứng đó, thở không ra hơi, mặt tái nhợt.
“Tarja, có chuyện gì vậy?”, anh hỏi.
“Cái hộp… cái hộp có giọng hát… ở kho hàng”, cô thở hổn hển.
“Nó bắt đầu phát ra âm thanh như đang rất đau đớn. Tôi muốn giúp nó, nhưng tôi không biết phải làm sao. Và anh là người duy nhất… tin tôi… nên xin anh, làm ơn. Giúp nó.”
“Được rồi, bình tĩnh nào, Tarja. Chúng ta sẽ cùng nhau đi xem.”, Tobias trấn an cô và dẫn cô về phía kho hàng.
Chiếc hộp mà cô chỉ là cái đã phản ứng mạnh nhất với giọng hát của cô. Tuy nhiên nó chỉ có thể mở bằng xác thực vân tay, nên họ không thể mở ra được. Khi anh lắc nhẹ cái hộp, anh cảm nhận chất lỏng bên trong cũng chuyển động, và chỉ có vậy. Nhưng đèn báo đỏ nhấp nháy trên hộp thì thật đáng lo.
“Và chỉ có mỗi cái hộp này là đang đau thôi sao?”, Tobias hỏi.
“Ừm.”, Tarja gật đầu. “Những cái khác thì bình thường. Và ngay khi nó có thể hát cùng tôi. Tại sao…?”, Cô vuốt ve nắp hộp một cách buồn bã.
Điều này khiến anh khựng lại. “Cô hát cùng nó? Với thứ bên trong hộp?”
“Vâng.”, Tarja gật đầu. “Cho đến tối qua, nó chỉ phản ứng lại kiểu vui vẻ thôi, nhưng hôm nay nó hát cùng tôi. Rồi đột nhiên nó phát ra âm thanh đau đớn đó.”,
Cô thở dài, cau mày buồn bã rồi ngước nhìn anh.
“Chúng ta có thể giúp nó không…?”
“Chúng ta không mở hộp được, nên không thể chạm vào nó. Cô có thể thử ru nó bằng một bài hát ru không?”
“Tôi không chắc. Từ lúc nó bắt đầu đau, nó chẳng còn đáp lại tôi nữa—”
Một âm thanh ngắt lời cô. Một nhịp sau đó, Tobias mới nhận ra đó là giọng người.
Ai đó đang đi xuống bằng thang máy. Giờ này đã khá muộn rồi. Phần lớn nhân viên sẽ ở các boong dưới.
“Tarja, trốn đi. Nhanh lên.”, Anh kéo cô và núp sau mấy thùng hàng khi có hai người đàn ông bước ra khỏi thang máy với đèn pin trên tay.
Những người lạ mặt đó đi thẳng tới mấy cái thùng mà máy dò của Tobias đã xác định là vũ khí ma thuật. Họ đặt cái hộp Tarja lo lắng xuống sàn, một người mở nắp hộp ra còn người kia chiếu đèn pin vào bên trong.
“Thỉnh thoảng tụi này cũng bị như thế”, một gã nói.
“Nhưng dạo này tỷ lệ lỗi ngày càng tăng.”
“Chết tiệt. Ngày mai còn có buổi salon nữa. Thứ này bỏ đi rồi.”
Tobias cảm nhận được vai Tarja đang run lên bên cạnh.
Hai người kia lục lọi gì đó ở mặt sau nắp hộp rồi chuyển thứ bên trong hộp sang cái xô gần đó. Tobias nghe thấy tiếng nước khi một khối trắng, bán trong suốt rơi tõm xuống xô.
“La. Đu. La. Đu. La… Laaa, la…”
Đột nhiên, Tobias nghe thấy tiếng hát khẽ vang lên.
Hai gã đàn ông cúi nhìn vào xô, mặt lộ rõ vẻ sốc.
“Cái thứ này đang hát. Nó học ở đâu ra vậy?”
“Nghe rợn người quá. Mau vứt quách đi. Im cái mồm lại đi.”
Một gã đá vào xô, tiếng hát tắt lịm. Mọi thứ im bặt. Giai điệu ngắn ngủi đó giống hệt bài hát Tarja đã hát. Tobias nín thở cho đến khi hai người kia đóng nắp hộp lại, bê cái xô đi về phía sảnh thang máy.
Chỉ khi nghe thấy cánh cửa thang máy đóng lại, anh mới thở ra, rồi nhìn sang Tarja. Cô đang lấy hai tay che miệng, nước mắt trào ra không ngừng.
“Tarja, ổn rồi.”, Anh nói. “Tôi biết chuyện này thật sốc.”
“Cái đó… là gì vậy? Thứ mà tôi đã hát cho nghe…”, cô thì thào. Cô kéo tay áo lau mũi rồi ngước nhìn anh, mắt vẫn còn đẫm lệ.
“Tôi cứ nghĩ nó là con cá hay gì đó… Nó là sinh vật ma thuật sao?”
Anh thở dài.
“Tôi cũng không rõ. Lúc nó hát trong xô, cô có cảm nhận được gì không?”
“Tôi thấy nó vui. Hạnh phúc. Nhưng rồi nó sợ hãi và im bặt. Bị đá như vậy thì sợ là phải…”, Cô thở ra, che mắt lại.
“Có lẽ là tại tôi. Vì tôi cứ hát cho nó nghe, nên nó mới bị vứt bỏ…”
Tobias không muốn tin rằng chút lòng tốt nhỏ bé của cô lại dẫn đến chuyện thế này. Anh nhẹ nhàng vuốt vai cô đang run rẩy vì cố ngăn tiếng khóc.
“…Ổn rồi.”, Anh nói. “Dù nó bị nhốt trong cái hộp đó, nó vẫn kịp có một người bạn là cô, Tarja. Nó đã học hát. Và dù nó là giống đực hay cái gì đi nữa, tôi nghĩ nó cũng đã hạnh phúc.”
Những lời đó chỉ để an ủi cô phần nào, nhưng Tarja vẫn gật đầu liên tục. Anh vỗ vai cô thêm lần nữa rồi nắm tay cô, đỡ cô đứng dậy.
“Tarja, cô nên về phòng nghỉ đi. Tôi không muốn nói thế này nhưng tốt nhất là đêm nay hãy coi như lần cuối cô hát ru cho tụi nó nghe. Bây giờ cô nên nghỉ ngơi. Được không?”
“Ừ. Vậy còn anh thì sao?”
“Tôi sẽ đi theo bọn chúng. Chắc chắn chúng sẽ phải lên boong tám để vứt thứ trong xô đó.”
Tobias bước vào sảnh thang máy một mình. Anh nhìn thang máy đang đi lên rồi chạm tay vào tai nghe không dây.
“Tobias đây. Canh chừng quanh boong tám. Đám người Jikunokagu đang vứt một Amalgam.”
“Theo đây. Roger *Nghe rõ trả lời*. Tôi sẽ kiểm tra bên mạn phải.”
“Emma. Roger *Nghe rõ trả lời*. Tôi sẽ trông bên mạn trái. Tôi cũng sẽ thả một drone thu hồi.”
Tobias kết thúc liên lạc rồi chạy vội lên cầu thang hướng đến boong tám.
*****
Emma bước ra boong tàu khu trục Calwell cùng với vài thủy thủ hải quân. Cô giao ống nhòm cho một người rồi nạp một viên đạn đặc biệt vào khẩu katahr có hình dáng như súng trường.
“Pháp sư, có người ra ngoài”, thủy thủ cầm ống nhòm báo. “Boong tám.”
“Có mang theo gì không?”, cô hỏi.
“Đèn pin và một cái xô. Drone thu hồi, sẵn sàng!”
“Drone thu hồi, sẵn sàng!”, Người thủy thủ lặp lại mệnh lệnh, đồng thời thiết lập một chiếc drone lớn, hình đĩa, màu đen ngay trên boong tàu.
“Á!”, thủy thủ cầm ống nhòm hốt hoảng kêu lên.
“Rơi rồi! Rơi xuống nước rồi! Thả drone thu hồi!”
“Roger *Nghe rõ*. Thả drone thu hồi!”
Một tiếng splash lớn vang lên khi người thủy thủ kia đáp lại. Chiếc drone nổi lên, đèn xanh nhấp nháy, rồi lướt trên mặt biển. Nhờ đèn chiếu của drone, Emma cũng nhìn thấy vật thể màu trắng đang trôi bồng bềnh trên mặt nước.
“Chính là nó”, cô nói. “Anh nghĩ có thể thu hồi được không?”
“Đang đo khối lượng và chiều dài… Không có vấn đề. Bắt đầu chuyển tải.”
Người thủy thủ điều khiển drone rất thành thạo, và Emma thở phào nhẹ nhõm. Thu hồi được Amalgam này sẽ giúp cuộc điều tra của họ tiến thêm một bước.
Nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo, một tín hiệu gọi đầy hoảng loạn và nhiễu vang lên qua tai nghe của cô.
“Báo cáo. Phát hiện vũ khí ma thuật! Lớn! Đang tiếp cận Havmonet!”
Một luồng căng thẳng chạy dọc qua nhóm. Emma nghiêng người qua lan can boong tàu. Với ánh sáng ít ỏi như thế, lẽ ra cô chẳng thể thấy được gì trên mặt biển đen kịt.
Nhưng cô vẫn thấy được một cái bóng khổng lồ luồn lách giữa những con sóng. Hình dạng dẹt như cá đuối, phát ra ánh sáng đỏ mờ ảo và đập đôi cánh lớn để bơi xuyên qua sóng đêm. Bóng đen đó lớn đến mức cô không thể nắm bắt toàn bộ hình dạng khi nó trườn qua một bên tàu khu trục. Viền đỏ đầy bất an ấy nhanh chóng áp sát drone.
“Mau thu hồi drone!”, Emma giục.
“Không kịp rồi”, người thủy thủ đáp ngay.
“Quá trình chuyển tải cần thời gian cố định!”
Emma quay nòng katahr xuống biển rồi bóp cò. Viên Magirus Shell đông lạnh phát nổ, trong chớp mắt, một màu trắng băng giá lan ra nơi viên đạn rơi xuống. Cô nghe tiếng răng rắc quanh mép, như tiếng băng vỡ. Dù không nhìn thấy bên dưới, nhưng vùng nước đó đã thực sự bị đóng băng.
Chỉ giữ chân nó được vài giây thôi. Dù sao cũng là Amalgam mà.
Emma bực bội tặc lưỡi rồi bắn phát nữa. Nhưng chỉ trong tích tắc, lớp băng tan vỡ toàn bộ, mặt biển dâng lên một chỗ.
“Chuyển tải xong! Thu drone”
Trước khi thủy thủ điều khiển kịp nói hết câu, drone đã bị nuốt chửng bởi con sóng khổng lồ. Một tràng tia lửa tóe ra, rồi cỗ máy hoàn toàn im lặng. Sóng biển lặng lại, còn cái bóng đỏ đáng sợ cũng biến mất không dấu vết.
“Báo cáo. Vũ khí ma thuật và drone thu hồi, cả hai đã mất hoàn toàn. Không thể truy dấu.”
Vai người thủy thủ trĩu xuống, đồng đội bên cạnh vỗ vai an ủi. Emma cũng thả lỏng vai, khen ngợi họ đã làm hết sức rồi vội chạy đến phòng điều khiển.
Vật thể được drone thu hồi nằm đó trong một hộp kính trong suốt. Màu trắng, bán trong suốt, với một tinh thể đỏ lặn bên trong. Trông nó như chiếc chuông sứa bị xẹp xuống.
Các thủy thủ nhìn nó đầy nghi hoặc.
“Cái này là gì vậy?”, một người hỏi.
“Nhìn có vẻ là nước.”
“Chúng ta sẽ để phòng thí nghiệm phân tích khi về đất liền”, Emma nói.
“Mấy anh có hộp đựng kín khí không?”
“Chúng tôi có mấy hộp lưu mẫu vật. Như vậy ổn chứ?”
Emma trấn an người thủy thủ lo lắng rằng hộp lưu mẫu là đủ rồi, rồi chuyển vật thể bán trong suốt đó sang hộp kín. Cô rút máy dò từ túi ra, và đúng như lo sợ, máy phát ra vài tiếng bíp ngắn. Vậy là nó thực sự là vũ khí ma thuật. Có lẽ là một Amalgam mà Jikunokagu định bán như một sản phẩm thay thế.
Sau khi chắc chắn vật thể đã được bảo quản an toàn trên tàu, cô mới chạm tay vào tai nghe.
“Emma đây. Chúng tôi đã thu hồi được thứ chúng ném xuống biển. Không nhầm được, nó là hàng bản sao để bán.”
“Theo đây. Làm tốt lắm. Giờ Amalgam thế nào?”
“Không có dấu hiệu chuyển động. Nằm im. Chắc đã đạt giới hạn hoạt động.”
“Khả năng cao vậy. Eleven bảo có lẽ nó đã vượt quá khả năng khi cố tương tác với con người và hát.”
“Chỉ vậy thôi sao?”
“Nó chỉ đủ khả năng làm theo lệnh và ngụy trang. Bọn đó không có khả năng giao tiếp với người khác.”
Emma thấy khó tin, nhưng nhìn việc Amalgam đã ngừng hoạt động, cô biết Eleven chắc chắn đúng.
“À mà”, Emma nói nhanh, “khi chúng vứt cái bản sao đó, có một vũ khí ma thuật từ đâu đó dưới biển xuất hiện để thu hồi nó. Nó đã kích hoạt máy dò của khu trục hạm, nên không nhầm được. Tôi nghĩ đó cũng là Amalgam, nhưng tôi chỉ thấy được bóng mờ. Không nhìn rõ.”
“Vậy à… Rõ rồi. Trên khu trục hạm chắc không sao, nhưng vẫn cẩn thận nhé.”
“Tôi sẽ cẩn thận. Anh cũng vậy.”
Emma đi về phòng lái và yêu cầu kiểm tra hồ sơ máy dò. Dù tín hiệu vũ khí ma thuật khá lớn, nó lại xuất hiện đột ngột rồi biến mất cũng rất nhanh.
“Vậy là vẫn không biết nó là gì. Có vẻ tín hiệu biến mất ở đây vì nó lặn xuống nhanh. Hoặc thực sự tan biến?”
“Tôi chưa thấy vũ khí ma thuật nào như vậy, nên không dám chắc”, người vận hành máy dò đáp.
“Nhưng nó biến mất quá nhanh. Dù có lặn, máy dò cũng sẽ bắt được tín hiệu hình dáng thu nhỏ dần. Nếu đọc tín hiệu đúng, thì nó tan biến ngay tại chỗ… nếu có thể nói như vậy.”
Thủy thủ đó lộ vẻ khó hiểu. Nhưng điều đó lại khiến Emma thấy hợp lý.
Nếu cô giả định có một Amalgam dưới đáy biển, có lẽ nó đang bận sản xuất lõi nên không thể tự đi lấy vật liệu. Vậy nếu, giống như Emma và các thủy thủ đã gửi drone thu hồi, thì Amalgam kia đã tạo ra một cơ quan có thể tách ra, di chuyển riêng biệt và ngụy trang thành nước biển, rồi biến mất ngay khi nuốt drone?
“Tôi có thể lấy các bản ghi này làm bằng chứng không?”, cô hỏi.
“Nếu cô muốn… Nhưng nghĩ đến việc sau này sẽ gặp thêm vũ khí ma thuật có thể xuất hiện rồi biến mất như vậy thì thật rợn người, phải không?”, Thủy thủ lắc đầu.
“Không thể nhắm ngư lôi vào. Có khi nó đánh chìm mình trước khi mình biết nó ở đâu.”
“Chính tôi cũng không muốn đối mặt với thứ như thế. Tôi thích kẻ địch mà tôi nhìn thấy được và nhắm súng vào được hơn.”
Emma cười gượng rồi cầm lấy các bản ghi từ tay người thủy thủ.
*****
Khi đã trở lại cabin, Theo thở phào nhẹ nhõm.
“Thật may là họ đã thu hồi được nó an toàn, nhưng Emma và mọi người trên con tàu đó đã thực sự gặp nguy hiểm. Tôi không ngờ Jikunokagu lại ngang nhiên ném nó xuống biển như vậy. Bảo sao Amalgam cũng phản ứng.”
“May là Emma đã đẩy lùi được nó chỉ với katahr. Đối thủ như thế bình thường sẽ chẳng nao núng trước hỏa lực đâu”, Eleven bình thản đáp, tháo chiếc khăn buộc tóc và cùng lúc trút bỏ luôn nhân cách Alouette.
Theo ngồi phịch xuống giường, còn cô thì ngồi đối diện anh.
“Lõi của Amalgam trông thế nào?”, anh hỏi.
“Nó ở quá xa tôi để có thể đo chính xác khoảng cách”, cô trả lời.
“Những gì Emma bắn không phải là thân chính của Amalgam, mà có lẽ chỉ là một cơ quan phụ. Căn cứ vào hành động khi nuốt drone, tôi đoán những cuộc tấn công vào tàu ở vùng biển đó cũng là do Amalgam thực hiện để thu thập vật liệu.”
“Một cơ quan phụ à… Vậy không chỉ có các Hound như cô mới có thể tách ra và di chuyển độc lập sao?”
Theo nhớ đến chiếc thắt lưng đen trong ký ức. Eleven đã biến cánh tay trái của mình thành một dải đai, quấn quanh tay anh, rồi vẫn hoạt động độc lập được. Xét việc chiếc đai đó vẫn ổn dù cô đã mất cơ thể vật lý, có lẽ Amalgam vốn có khả năng di chuyển linh hoạt ngoài sức tưởng tượng.
“Ví dụ”, Eleven bắt đầu, “Amalgam ở vùng chiến sự đã được xác nhận có thể tự tạo ra các cơ quan phụ để thực hiện mệnh lệnh. Phần lớn chúng là bẫy như mồi nhử, pháo đài, hoặc hầm chông, nhưng cũng từng có trường hợp Amalgam tạo ra và liên tục đưa ra các đơn vị đột kích mang bom để xông vào chiến hào kẻ địch.”
“Nó biến một phần cơ thể thành quân cảm tử mang bom sao? Thật kinh khủng.”, Cảm thấy hơi buồn nôn, Theo hắng giọng.
“Nói cách khác, cô muốn nói rằng ngay cả Amalgam thông thường cũng có thể điều khiển cơ thể vật lý từ xa?”
“Đúng vậy, nó có thể hành động độc lập. Nhưng vì khoảng cách nó có thể rời khỏi lõi là cố định, nên thân chính của Amalgam chắc chắn cũng đã ở gần vào thời điểm tấn công.”
“Ngay cả một tàu khu trục cũng khó mà đối phó với Amalgam kiểu đó”, anh lẩm bẩm. “Nó quá linh hoạt.”
“Vậy hành vi vứt bỏ proxy không được ủy quyền có áp dụng cho trường hợp này không?”
“Ý cô là hàng cấm? Cũng đúng. Có lẽ không áp dụng vì họ không ký hợp đồng làm proxy. Và hình như nó cũng chỉ đang ở giai đoạn hàng tồn kho thôi.”, Anh nới lỏng cổ áo và thở dài.
“Nhưng nghĩ đến việc một Amalgam sinh ra từ biển, nói chuyện với cháu gái của một nàng tiên cá… Thật sự…”
“Đây là một trường hợp quan sát quan trọng. Đã xác định nó xuất hiện trong đại dương sao?”
“Thật kỳ lạ, nhỉ? Giả sử những Amalgam trong khoang hàng đang ở trạng thái chờ, liệu chúng có thể giao tiếp với con người ở trạng thái đó không?”
Sau một hồi im lặng, Eleven giơ tay lên.
“Tôi đang gửi tín hiệu cho anh đấy, Theo. Anh có cảm nhận được không?”
“Không…”, Anh lắc đầu chậm rãi. “Tôi chỉ biết cô vừa giơ tay phải thôi.”
“Và tương tự, tín hiệu của Amalgam thường chỉ có thể gửi và nhận giữa các Amalgam với nhau. Chúng tôi, các Hound, cũng dùng tín hiệu này để đặt Amalgam dưới quyền điều khiển của mình. Theo suy đoán, tôi tự hỏi liệu Amalgam đó không phải đang cố giao tiếp với nhân viên an ninh, mà chỉ đang cố khẳng định rằng nó là bạn bằng cách trả lại tín hiệu tương tự.”
Điều này khá hợp lý với Theo, nhưng anh vẫn hơi do dự. Anh cau mày.
“Liệu Amalgam có hiểu khái niệm bạn bè không?”
“Nó khác với cảm giác gắn kết giữa con người, nhưng Amalgam cũng truyền tín hiệu và phối hợp hành động theo nhóm. Để thực hiện mệnh lệnh hiệu quả, chúng thông báo cho nhau vị trí, chuyển động và trạng thái. Tuy nhiên, tôi không thể diễn tả được các tín hiệu đó bằng lời.”
“Ừ, tôi hiểu.”, Anh gật gù.
“Vậy thì cái bị vứt bỏ chỉ đơn giản là đã học bài hát của bảo vệ và tái hiện nó để thực hiện lệnh chờ.”
“Đây chỉ là giả thuyết dựa trên thông tin gián tiếp, nhưng có khả năng cao là vậy”, Eleven đồng ý.
Anh suýt cảm thấy tội nghiệp cho nó vì bị coi là hàng lỗi và bị vứt bỏ chỉ vì chuyện đó.
Eleven quay ánh mắt ra cửa sổ. Bên ngoài đen kịt, trong mắt Theo chỉ phản chiếu hình ảnh bên trong phòng. Nhưng đôi mắt xám của cô dường như đang nhìn xuyên ra tận đáy đại dương.
“Bên trong cái hộp, trong một hình thái bất định, nó đã ghi nhớ âm thanh và giai điệu nghe được bên ngoài, tự tạo ra cơ quan phát âm trong khi vẫn chưa có hình dạng hoàn chỉnh, rồi cất tiếng hát”, cô nói.
“Một nỗ lực phi thường. Xét về chức năng của lõi, quả là một phép màu khi nó có thể hát ra lời.”
“Một phép màu?”
“Amalgam không thể tự tạo hình thái mà nó chưa được dạy. Chúng không thể tạo ra thứ gì từ hư vô. Chúng cũng không thể tự tiến hóa sang hình thái tiếp theo từ cái đã tạo ra. Tất cả những gì chúng có thể làm là tái hiện một cách trung thành những gì được dạy. Vậy nên để tự tạo ra cơ quan phát âm chưa từng có và cố gắng đáp lại bài hát nghe được… Hành vi này đã vượt xa chức năng vốn có và với tôi thì đó là điều bất khả thi.”
Theo khẽ ậm ừ đồng tình. Quả thật, ngay cả con người cũng sẽ gặp khó khăn nếu chỉ dựa vào âm thanh để tái hiện một bài hát. Việc tự học bài hát với hiểu biết rằng đó là giọng hát của con người đã khó, nhưng với một Amalgam chỉ biết đến thế giới bên trong hộp, việc xác định âm thanh đó thôi cũng đã là kỳ tích.
“…Liệu có phải nó chỉ đơn giản là rất muốn đáp lại bài hát không?”, Theo hỏi, và Eleven nhìn anh chằm chằm một lúc.
“Tôi đã nói với anh vô số lần rằng Amalgam không có cảm xúc”, cô đáp thẳng thừng.
“Xin lỗi. Chỉ là tôi nghĩ vậy thôi.”
“Nếu anh cần một bài hát ru, tôi sẽ hát cho.”
“Bây giờ cô đang trêu tôi đấy à! Tôi không cần bài hát ru đâu!”
Theo ném áo khoác xuống giường rồi bước thẳng vào phòng tắm.
*****
Có vẻ như cô đã khiến Theo phật ý. Cô đã cho rằng mình đã bắt kịp ý của anh, bởi “những bài hát ru”, quan trọng với con người đến mức ấy, nhưng dường như cô đã nhầm.
Con người thật khó hiểu.
Eleven dời sự tập trung khỏi tiếng nước chảy trong phòng tắm, rồi mở rộng sự chú ý ra bên ngoài căn phòng. Sự hiện diện của những con người trên cùng boong tàu, tiếng không khí luồn qua các lỗ thông gió, tiếng động cơ rền thấp, tiếng sóng vỗ vào thân tàu—tất cả những thứ đó, cô dần gạt ra khỏi ý thức cho đến khi chỉ còn lại tín hiệu của Amalgam. Tín hiệu vang vọng rải rác khắp con tàu và ngoài biển, nhưng cô không thể nắm rõ vị trí chính xác của nó. Bản thân tín hiệu cũng rất yếu.
Chờ. Bảo vệ. Chờ. Bảo vệ. Hai tín hiệu luân phiên nhau. Dĩ nhiên, Eleven sẽ không tuân theo những mệnh lệnh này, nhưng cô vẫn nhắm mắt lại và tiếp tục bắt tín hiệu đang bị gió và sóng phản xạ tán xạ khắp nơi.
Tour du thuyền: Ngày thứ ba
Camicia quả thật không nói dối; một tấm thiệp mời đã được chuyển đến phòng họ cùng với tờ báo sáng hôm sau. Để chắc chắn, Theo đã hỏi quầy lễ tân và biết rằng Camicia đã yêu cầu chuyển nó từ tối hôm trước. Anh ta chỉ đơn giản là tận dụng dịch vụ thư tín dành cho hành khách trên tàu, nên không có gì đáng ngờ cả.
“Ngay từ khi hắn thuê riêng phòng salon cho cả chuyến đi, chúng ta đã biết hắn chẳng hề có ý định che giấu gì rồi, nhưng tôi vẫn hơi bối rối vì hắn lại mời chúng ta một cách công khai thế này,”, Theo nhận xét, và Tobias bật cười qua bộ đàm.
“Giấu giếm rõ ràng chưa bao giờ là lựa chọn. Đơn đặt hàng phục vụ tại phòng cũng có rồi. Chỉ ghi rõ thời gian, số người và loại đồ uống. Nhân viên salon sẽ đến lấy tất cả những gì bếp chuẩn bị. Xin lỗi nhé, nhưng tôi sẽ khó mà đảm bảo đồ ăn thức uống an toàn.”
“Chuyện đó đành chịu vậy. Bọn tôi sẽ tự lo phần này.”, Theo cũng không nghĩ đây sẽ chỉ là một buổi tiệc trà bình thường. Anh đã sẵn sàng.
“Ca trực của anh thế nào?”
“Tôi đã nhờ người đổi ca đúng lúc buổi salon diễn ra. Tôi sẽ trực điện thoại ở văn phòng tầng sáu. Chỗ đó khá gần salon, nên tôi có thể lao vào ngay khi anh báo tin.”
“Tốt lắm. Tôi sẽ báo khi chúng tôi đã vào salon.”
Khi kết thúc cuộc gọi và quay lại, Theo thấy Eleven vẫn đang ngồi trên giường với đôi mắt nhắm nghiền.
“Có tín hiệu gì từ Amalgam không?”, anh hỏi cô.
“Tôi có thể cảm nhận được sự hiện diện của nó, nhưng không thể xác định vị trí. Có vẻ như tín hiệu của tôi không đến được chỗ nó. Nhưng nó vẫn đang liên tục phát tín hiệu.”
“Amalgam chính đang gửi lệnh cho các proxy à?”
“Nó đang khẳng định rằng chúng phải tuân thủ lệnh chờ và tín hiệu kích hoạt. Ta có thể coi các proxy là một tổ chức các cơ quan phụ nghe lệnh điều khiển của Amalgam chính.”,
Eleven mở mắt ra, hướng ánh nhìn xám lạnh về phía Theo.
“Tùy thuộc vào hành vi trong buổi salon, cũng có khả năng Amalgam chỉ huy các proxy sẽ chuyển sang mệnh lệnh tấn công. Tôi khuyên anh nên tiến hành thận trọng.”
“Đúng vậy. Chúng ta không thể để kéo những hành khách khác vào chuyện này.”
Anh cúi xuống nhìn tấm thiệp mời. Có lẽ tốt nhất nên chuẩn bị sẵn sàng cho kịch bản tệ nhất.
*****
Emma trừng mắt nhìn tấm bảng trắng trong phòng họp trên tàu khu trục Calwell. Cô đã tóm tắt toàn bộ thông tin liên quan đến vụ án hiện tại theo trình tự thời gian.
Giorgio Santoro đã nhiều lần cướp bóc các vùng chiến sự nơi hắn được cử đến với vai trò phóng viên chiến trường. Trong chuyến đi cuối cùng, hắn đã khiến cả đội mà hắn bám theo rơi vào tình thế nguy hiểm, và toàn đội đã thiệt mạng, chỉ mình hắn trốn thoát được. Cuối cùng, việc đó cũng khiến hắn phải trả giá, hắn bị tước vĩnh viễn thẻ phóng viên và bị đuổi đi. Việc này đã xảy ra cách đây bốn năm. Emma có được thông tin này từ các bằng chứng thu thập được trong cuộc điều tra quân sự.
Ngoài ra còn có thông tin từ các cơ quan tình báo. Theo hồ sơ về các Amalgam từng phục vụ gần đội quân đã bị tiêu diệt đó, có một số cá thể đã bị phá hủy trong một trận đánh bom quy mô lớn. Một Hound được cử đi thu hồi chúng nhưng cuối cùng chỉ tìm lại được một cá thể duy nhất.
Cùng thời gian với cuộc điều tra của Tình báo, Santoro dường như đã bắt đầu nghiên cứu Amalgam sau khi trở về Adastrah. Emma lần theo các giao dịch trong tài khoản ngân hàng của hắn và xác nhận các thỏa thuận, nhờ đó phát hiện ra rằng hắn đã bán đồ cổ từ các vùng đã trở thành chiến trường. Trong khi đó, hắn dùng số tiền thu được để mua các công cụ chuyên dụng và sách về cơ khí ma thuật.
Cô cũng đã xác nhận được rằng, bắt đầu từ thời điểm đó, hắn đã nhờ người ở nhiều nơi khác nhau sử dụng anathema để kiểm tra tính xác thực trước khi bán chúng cho các nhà sưu tầm với giá cao. Theo lời những người sưu tầm này, hắn đã thực hiện các giao dịch như vậy cho đến khoảng một năm trước.
Cuối cùng, hắn nhận ra các quy trình lõi là chìa khóa và quay lại tòa soạn cũ, dùng dự án tạp chí để tiếp cận Tiến sĩ Nilholm, người đang nghiên cứu về cấu trúc quy trình. Sau đó, hắn lấy được thứ mình cần từ ông ta rồi giết ông ta để bịt đầu mối. Hắn đã chuẩn bị sẵn cáo phó và gửi nó cho tòa soạn rồi biến mất.
“Vậy hãy giả sử tôi là một kẻ hám tiền không biết gì về vũ khí ma thuật.”
Emma nhìn chằm chằm vào bảng trắng, rồi chống tay lên bàn.
“Mọi người xung quanh tôi đều chết, nhưng trước mặt tôi lại có một viên đá đẹp. Tôi có thể mang nó về nhà và bán với giá cao. Nhưng lạ thật. Dù tôi lau chùi nó bao nhiêu lần thì nó vẫn cứ bị bám thứ gì đó. Tôi không thể bán nó như thế này được. Nếu tôi biết chính xác Amalgam là gì, tôi tự hỏi liệu mình có thể giữ nó ở dạng đá thuần túy không.”
Đến bước đường cùng, hắn tìm đến các sách kỹ thuật về cơ khí ma thuật và tìm hiểu đặc điểm của Amalgam. Vậy thì nếu Jikunokagu tiếp cận hắn sau khi chú ý đến các hoạt động buôn bán đồ cổ và vật phẩm bị nguyền rủa của hắn nhằm tài trợ cho việc nghiên cứu này thì sao?
“Thị trường cho hàng tổng hợp lớn hơn nhiều so với đá quý. Nếu chúng cứ dùng proxy để trộm hàng tổng hợp từ khách, chúng sẽ kiếm được kha khá. Nhưng đến một lúc nào đó, chúng sẽ chạm trần…”
Chúng sẽ muốn thứ gì đó có thể kiếm ra nhiều tiền hơn. Để làm được điều đó, Santoro đã sản xuất hàng loạt Amalgam có thể biến hình thành bất cứ thứ gì, thay vì chỉ bán chúng như những viên đá quý. Hắn chọn cách xóa và ghi đè một phần quy trình vì từ những nghiên cứu độc lập, hắn hiểu rằng số lượng quy trình có thể ghi lên một lõi là có giới hạn.
“Nhỡ đâu, để cố tăng lợi nhuận hơn nữa, hắn đã tạo ra một sản phẩm vượt quá khả năng vận hành của lõi thì sao…?”
Emma rùng mình, đứng chôn chân tại chỗ.
*****
Tấm thiệp mời trong tay, Theo rời phòng với bộ vest chỉnh tề. Eleven mặc một chiếc váy dạ tiệc màu đỏ đậm, vạt váy bất đối xứng đung đưa duyên dáng theo từng bước chân. Đôi tay đeo găng thò ra khỏi tay áo chuông. Tất cả phụ kiện của cô đều màu đen bóng, tạo cảm giác đồng bộ.
“…Cô không thể mặc lại cùng một chiếc váy à?”, anh hỏi.
“Tôi không ngại, nhưng nếu có thể thì tốt nhất nên thay đổi một chút”, cô trả lời. “Quần áo là biểu tượng của sự giàu có mà.”
“Người như tôi thì không thể sống nổi ở thế giới này rồi.”, Anh thở dài.
“Không sao đâu, Hạ sĩ. Bộ vest hợp với anh mà.”
Eleven, giờ mang tên Alouette, mỉm cười rồi bước lên trước anh. Mái tóc bạc được búi kiểu Gibson tuck và tô điểm bằng dải ruy băng nhung đen.
Theo nhét thẻ từ và thiệp mời vào túi trong rồi bước theo cô.
Thời gian trôi chậm rãi vào đầu giờ chiều trên con tàu. Họ đi ngang qua không ít hành khách đang trên đường đến hồ bơi và thấy nhiều người khác tụ tập trong các quán cà phê, sảnh lớn để thưởng thức trà chiều thanh nhã. Khi họ xuống boong sáu, khu mua sắm khá nhộn nhịp với những hành khách tranh thủ mua quà lưu niệm trước khi tàu cập bến tiếp theo.
Theo đưa thiệp mời cho nhân viên đứng trước salon, cô ta đáp lại bằng một nụ cười.
“Chúng tôi đã chờ quý khách. Xin hãy chọn một trong số này để đeo vào khi vào trong.”
Cô đưa ra những chiếc mặt nạ gắn kẹp tóc. Trông chúng giống đạo cụ sân khấu, sặc sỡ, được trang trí bằng sequin và lông vũ, chỉ che phần mắt.
“Nhất thiết phải đeo thứ này sao?”, anh hỏi.
“Chúng tôi phát cho mọi người để quý khách có thể tạm rời xa cuộc sống thường nhật và hoàn toàn đắm mình trong trải nghiệm. Tuy không bắt buộc, quý khách hoàn toàn có thể tự do lựa chọn, nhưng hầu hết đều đeo. Xin hãy tận hưởng điều này như một phần của buổi tiệc.”
Theo biết rõ mặt mình đang cứng đờ, nhưng nhân viên vẫn chỉ mỉm cười lịch sự.
Eleven bật cười như một thiếu nữ.
“Thật thú vị! Giống như vũ hội mặt nạ vậy.”
“Người tổ chức, Camicia, đưa chúng vào với ý tưởng về một nơi gặp mặt bí mật”, nhân viên giải thích.
Họ đã bị “xem xét”, ngay khi nhận lời mời rồi, vậy còn che giấu danh tính để làm gì? Theo không hiểu nổi, nhưng vì Alouette đã ở đây, anh không thể từ chối. Anh lấy một chiếc mặt nạ đen hợp với bộ vest, còn Eleven chọn chiếc đỏ ton-sur-ton với váy.
“Theo, lại đây.”, cô nói. “Tôi sẽ đeo cho anh.”
“Đeo mặt nạ thế này với bộ vest thường quá thì buồn cười lắm.”, Anh cằn nhằn.
“Đừng vậy mà! Che bớt khuôn mặt dữ tợn của anh thì biết đâu sẽ dễ làm thân với mọi người hơn.”
Cô bật cười khúc khích, nhẹ nhàng cài mặt nạ lên mắt anh rồi thì thầm bên tai
“Chúng ta không thể có lớp ngụy trang nào tốt hơn để quan sát mọi người. Hãy tận dụng đi.”
“Cũng đúng.”, Anh miễn cưỡng đồng ý.
“Đưa tôi cái của cô. Kẻo làm rối tóc đẹp mất.”
“Ôi chao, anh đeo cho tôi sao? Xin đa tạ.”
Cô cười tươi rồi ngoan ngoãn nhắm mắt. Mắt cô với lớp phấn mắt hồng và hàng mi cong dài bỗng trở nên nổi bật lạ thường. Anh cảm thấy thật phí khi phải che đi vẻ đẹp ấy.
Mình đeo mặt nạ, ai với ai cũng biết ngay thôi mà.
Tay Theo khựng lại một chút nhưng rồi anh cũng nghĩ những vị khách khác chắc cũng hiểu điều này. Anh cẩn thận cài mặt nạ cho cô mà không làm rối mái tóc búi cầu kỳ, Eleven cười rạng rỡ cảm ơn anh.
Phần mắt có ống kính đen, nhưng tầm nhìn cũng không tệ. Mặt nạ khá nhẹ, không gây cảm giác nặng nề. Đúng như nhân viên nói, nó chỉ là phụ kiện hóa trang.
Bước vào salon, họ thấy các vị khách khác cũng đã che mắt bằng mặt nạ. Có lẽ vì ai cũng tuân thủ dress code nên anh cảm thấy một sự đồng cảm lạ lùng, ngỡ như mình thật sự bước vào một vũ hội mặt nạ.
Tuy quần áo khác với tiệc chào đón, nhưng dường như hầu hết những người khuyết tật và người dùng thiết bị tổng hợp mà Camicia và đồng bọn để mắt tới đều có mặt. Với nhiều người, quần áo đã che giấu khuyết tật và bộ phận giả của họ, nhưng dù Camicia nói đây là buổi tụ họp “bạn thân thiết”, bầu không khí vẫn phảng phất căng thẳng và bất an.
“Có dấu hiệu gì không?”, anh ghé tai Eleven hỏi, như thể đang trao đổi bí mật.
“Ba người thuộc đội nhân viên.”, cô thì thầm. “Khác với mấy người tôi thấy ở buổi tiệc.”
Anh khẽ chạm tay lên tai nghe. “Theo đây. Chúng tôi đã vào.”
“Tobias nghe rõ. Đang chờ lệnh.”
“Emma, khu trục Calwell. Đang quan sát ngoài biển. Mọi thứ ổn.”
Sự căng thẳng của Theo tăng lên khi nghe báo cáo, anh cẩn trọng đảo mắt khắp phòng.
Phòng này nhỏ hơn hội trường chính nhưng vẫn khá rộng. Chỉ có một lối ra và không cửa sổ. Đối diện cửa vào là sân khấu tạm, ghế khán giả xếp thành hàng ngay trước. Cạnh sân khấu có một khu vực ngăn tạm, có lẽ dành cho nhân viên. Anh nghe thấy tiếng người chuẩn bị bên trong, thi thoảng lại nghe tiếng cửa mở—chắc còn phòng nào đó phía sau. Anh đếm được ít nhất mười người đang phục vụ.
Chẳng mấy chốc, một phục vụ đẩy xe đầy đồ uống và đồ ăn nhẹ tới. Đồ uống không cồn duy nhất là nước cam. Theo lấy hai ly và một đĩa hạt hỗn hợp rồi thở dài.
“Nước cam thì khó phát hiện có gì pha trộn bên trong lắm.”
“Để tôi thử trước.”, Eleven nhấp một ngụm rồi thì thầm
“Chất kích thích và an thần. Chắc để tạo cảm giác hưng phấn và say nhẹ, đồng thời ngăn người ta nhớ chi tiết. Cả hai đều liều lượng không nguy hiểm.”
“Ra vậy.”, Anh gật đầu.
“Dùng đồ uống để giấu vị đắng. Thủ đoạn hay đấy, khiến khách vui vẻ chi tiền, rồi lờ mờ chẳng nhớ gì, thế là họ giữ mồm giữ miệng.”
Quả là khôn ngoan. Theo bực bội nhấp ngụm cam rồi đặt ly xuống bàn giữa ghế ngồi.
Eleven bốc ít hạt ăn.
“Hạt thì an toàn. Cứ thả lỏng đi.”
“Cũng may. Nhưng chỉ ăn hạt thì hơi buồn…”
Tuy nhiên, bánh ngọt có lẽ chứa thứ anh chẳng muốn nuốt vào. Anh nhón một hạt bỏ miệng, đảo mắt nhìn quanh. Các vị khách cũng rì rầm trò chuyện, nhưng phần lớn đi một mình hoặc theo cặp, ai nấy đều có vẻ gượng gạo. Mà cũng dễ hiểu thôi, ai mà thoải mái cho được khi ai cũng đeo mặt nạ, chẳng biết ai là ai?
Cuối cùng, Camicia xuất hiện trên sân khấu, được chào đón bằng tràng pháo tay. Chỉ riêng hắn là đeo mặt nạ không có thấu kính đen, ai cũng dễ nhận ra.
“Cảm ơn các bạn đã đến với salon hôm nay! Với tôi, các bạn đều là những người bạn quý giá. Mong mọi người tận hưởng buổi chiều dễ chịu cùng nhau. Ai chưa có đồ uống hay gì để ăn…? À, không ai à. Vậy thì, chúng ta bắt đầu nhé. Trước hết, xin mời thưởng thức nghệ thuật truyền thống Đông Akaryaza!”
Camicia cúi chào rồi ra hiệu cho cánh gà. Tiếng nhạc lạ lẫm vang lên, những người mặc trang phục kỳ lạ lần lượt bước ra sân khấu.
Họ đeo mặt nạ cáo, mèo, trang phục mở phía trước buộc bằng đai vải. Họa tiết và màu sắc rất khác lạ so với Adastrah nhưng lại hài hòa đến kỳ lạ. Cách họ búi tóc, chuyển động tay chân, nhịp điệu, màu sắc, thiết kế, mọi thứ đều lạ, khiến khán giả có cảm giác như lạc sang một đất nước khác.
Từ khi Đông Akaryaza đóng cửa biên giới thành quốc đảo, lục địa gần như chẳng còn biết gì về văn hóa của họ. Không chỉ Theo, nhiều vị khách cũng trầm trồ thán phục. Ban đầu điệu múa nhẹ nhàng, nhạc và vũ đạo hòa quyện để khoe trang phục và động tác. Nhưng nhạc và vũ công càng lúc càng nhanh, như lăn xuống dốc, rồi dồn dập lên đến đỉnh điểm. Âm thanh và tiếng hô của vũ công như thôi miên, lấp đầy đầu óc anh. Và rồi
“Theo.”, Eleven thì thầm, kéo tay áo anh.
Bị kéo về thực tại, Theo hoàn hồn. Giữa căn phòng đang cuồng nhiệt vì điệu nhạc lạ, giọng Eleven lạnh như băng.
“Hít thở sâu vào. Giữ cho đầu óc tỉnh táo.”
“Xin lỗi.”, Anh ngả người ra ghế. “Tôi bị cuốn đi mất. Vì âm nhạc sao?”
Cô ghé sát tai anh thì thầm
“Nhạc và lời bài hát chứa yếu tố nguyền rủa. Chúng sử dụng chất liệu từ Đông Akaryaza và các nước lân cận. Chắc là nghi thức thôi miên truyền thống.”
“Ra vậy, không chỉ đồ ăn thức uống…”
Anh chỉnh lại tinh thần thì buổi múa kết thúc. Khán phòng vang tiếng vỗ tay, reo hò, vũ công và nhạc công cúi chào rồi lui vào cánh gà.
Trước khi không khí phấn khích lắng xuống, Camicia lại xuất hiện, bắt đầu giới thiệu “sản phẩm đặc biệt”, cho salon hôm nay. Hắn chiếu slide ảnh chuyến du lịch tự xưng, đưa ra những món đồ thủ công bình thường, thủ công truyền thống Đông Akaryaza, rồi thêu dệt chuyện hoang đường như chúng được dùng làm nguyên liệu tạo sinh vật ma thuật, hay chứa phép thuật vận hành vĩnh viễn.
Giá như chỉ thế thì chẳng sao. Nhưng trong lúc phun lời vô căn cứ, hắn chỉ vào khách và khéo léo dụ dỗ bằng những hứa hẹn “Sẽ giải quyết vấn đề của bạn”, hay “Điều ước bấy lâu sẽ thành sự thật”, thế là khách sẵn sàng mua món đồ ngay. Thỉnh thoảng có món chỉ có một cái, nhiều người tranh nhau, biến thành đấu giá. Camicia càng đẩy giá, càng khen ngợi nịnh bợ khách thắng cuộc.
“…Nếu bắt hắn ngay vì tội lừa đảo thì sao nhỉ?”, Theo làu bàu, bực bội.
“Nếu không chứng minh được tại chỗ là lừa đảo, rất có thể chúng ta lại bị kiện ngược.”, Eleven đáp tỉnh bơ.
“Điều chúng ta cần nằm ở phần sau. Tập trung đi.”
Anh ngồi thẳng người.
Một bể cá lớn được đưa ra từ phía sau tấm ngăn. Bên trong bể đầy nước đục màu trắng, che giấu thứ bên trong.
Camicia chắp tay, nhìn khắp khán phòng, cười rạng rỡ. “Giờ thì, đây là ngôi sao của chúng ta hôm nay. Một ‘proxy’, như cách gọi ở Đông Akaryaza! Và đúng như tên gọi, nó chính là vật thay thế cho cơ thể. Thật như mơ, sản phẩm kỳ diệu này sẽ khôi phục phần cơ thể bị mất!”
Tiếng xì xào phấn khích lan khắp phòng. Những khách khuyết tật, người dùng bộ phận giả và người thân của họ xôn xao hẳn. Có tiếng ghế đổ bên cạnh anh, Theo nhìn lên thấy Eleven đã bật dậy.
Khi nhìn thấy cô, nụ cười Camicia càng rộng, hắn dang tay về phía khán giả.
“Tôi chắc mọi người đều tò mò không biết nó có thật không. Sản phẩm này sẽ bù đắp phần thiếu mà không gây đau đớn. Những ai từng lắp bộ phận tổng hợp hẳn còn nhớ cảm giác đau đớn khi vừa gắn xong và những ngày vật lộn phục hồi chức năng. Thứ tuyệt diệu này sẽ giải thoát các bạn khỏi bảo dưỡng, nâng cấp phiền phức và trả lại cho bạn chính cơ thể của mình! Giờ chúng tôi sẽ làm mẫu. Xin mời mọi người tiến lại gần. Đặc biệt là cô gái váy đỏ! Mời cô lên đây!”
Camicia giơ tay mời Eleven tiến lên.
Quan sát các khách tò mò tụ tập quanh bể, Theo đứng sau Eleven, hàng đầu tiên.
Khi mọi người đã tề tựu, Camicia gọi ai đó từ sau tấm ngăn—một người đàn ông mặc vest cũ, che mặt bằng mặt nạ. Ông ta cởi áo khoác, quay về phía Camicia. Camicia gật đầu rồi hướng về khán giả.
“Đây là khách hàng đã mua proxy. Ông ấy sẽ tháo tay phải tổng hợp để lấy lại cánh tay thật. Xin mời, thưa ông, hãy trải nghiệm phép màu!”
Người đàn ông tháo găng tay, xắn tay áo. Tay phải ông là bộ phận tổng hợp rẻ tiền, lớp vỏ mỏng, khớp kêu cót két. Ông ta tháo ra rồi nhúng phần tay còn lại vào bể. Mặt nước đục gợn sóng, rồi lại lặng xuống.
Mọi người nín thở nhìn. Sóng nổi lên, bọt nước sủi, mảng đục tụ lại một chỗ, rồi dần hiện hình cánh tay người. Người đàn ông kéo nó lên, thở hổn hển, nước bắn tung tóe. Đó thật sự là một cánh tay người.
Không tin nổi, ông ta run rẩy mở ra nắm lại bàn tay phải. Dây thần kinh đã nối liền.
Tiếng hò reo, thở dốc vang lên, ai nấy đều choáng váng, không ai tin nổi vào mắt mình.
Người đàn ông xoay bàn tay mình qua lại nhiều lần khi nhìn Camicia.
“Không thể tin được. Nó còn mịn hơn anh nói nữa! Cánh tay của tôi thực sự đã trở lại! Aah! Giống như một giấc mơ trở thành hiện thực!”
“Như tôi đã giải thích trước đó, thưa ngài. Hãy tận hưởng một cuộc sống hạnh phúc với cánh tay mới của mình!”,
Camicia đưa cho người đàn ông một chiếc khăn và tiễn ông ta vào cánh gà với một nụ cười.
Ngay lập tức, những câu hỏi bay tới Camicia từ khán giả: Chi phí, hiệu quả, các bộ phận cơ thể có thể áp dụng, những rủi ro tiềm ẩn. Camicia không trả lời bất cứ câu hỏi nào, mà chỉ đưa tay ra hiệu cho khán giả giữ trật tự.
“Mọi người, tôi rất vui khi thấy các vị phản ứng tích cực như vậy. Tuy nhiên, sản phẩm này cần được xử lý riêng lẻ, vì vậy tôi sẽ đưa danh thiếp của mình cho tất cả những ai quan tâm sau buổi hội thảo. Chúng ta sẽ thảo luận chi tiết sau. Thật ra, tôi còn một đề nghị đặc biệt nữa dành cho các vị.”
Camicia ra hiệu cho nhân viên, và một bồn tắm được đưa lên thay cho bể chứa nước lúc nãy, giờ đã chỉ còn lại nước. Bồn tắm cũng được đổ đầy một chất lỏng trắng đục.
“Lại là cái này sao…?”
“Đúng vậy, vẫn là thứ đó.”
Theo và Eleven thì thầm với nhau để tránh bị khán giả nghe thấy, những người đã bắt đầu xôn xao mong đợi. Đây cũng là một “proxy”, như sản phẩm trước, nhưng lần này Camicia định làm gì? Theo đặt tay lên khẩu súng bên hông, mắt không rời khỏi người đàn ông trên sân khấu.
“Đây thực sự là một món hàng có một không hai”, Camicia tuyên bố.
“Tên của nó là một phép màu… hồi sinh người chết!”
Căn phòng bùng nổ tiếng xì xào. Một số người bắt đầu hy vọng sau khi chứng kiến sản phẩm proxy thật sự phục hồi bộ phận cơ thể, trong khi những người khác lại cau mày trước việc phá vỡ điều cấm kỵ như vậy. Khách mời phản ứng đủ kiểu, nhưng chỉ có một cặp vợ chồng siết chặt tay nhau, môi mím chặt.
“Điều kỳ diệu là chỉ cần một phần cơ thể vật lý của người đã khuất, xương, tóc, máu, sẽ khiến linh hồn của người đó trú ngụ trong một cơ thể được phục hồi nguyên vẹn như khi họ còn sống. Hôm nay, tôi đã mời một người bạn có người thân muốn được hồi sinh. Xin mời lên đây.”
Bỏ ngoài tai bầu không khí căng thẳng, Camicia vẫn tươi cười khi gọi cặp đôi đã phản ứng khác biệt. Họ dường như là vợ chồng, bước lại gần bồn tắm, áp sát nhau. Người phụ nữ bật khóc như không thể kìm nén được nữa, đưa khăn tay lên che miệng. Người đàn ông lấy ra một chiếc túi giản dị và đổ vào bồn tắm.
Rơi xuống cùng tiếng nước bắn là những khúc xương người.
Căn phòng đang náo nhiệt bỗng lặng như tờ. Ai nấy nín thở nhìn cặp đôi để xác nhận xem chuyện này có thật không. Người đàn ông sau đó lấy ra một gói giấy từ túi áo vest, mở ra, bên trong là những lọn tóc đen. Ông áp lọn tóc lên trán, thở ra run rẩy, như một lời cầu nguyện. Rồi ông thả tóc vào bồn.
Sau khi im lặng quan sát, Camicia cất lời:
“Bây giờ, xin hãy gọi tên người mà quý vị muốn hồi sinh.”
“Ranya”, người phụ nữ nắm chặt khăn tay nói khẽ, giọng đầy đau đớn.
“Ranya, hãy trở về với chúng ta…”
Có lẽ đây là tên con gái họ, nghe qua nỗi đau thấm trong từng lời. Khi Theo còn chưa biết nói gì, bồn tắm bắt đầu sủi bọt dữ dội. Sự đục ngầu tụ lại một chỗ rồi bắt đầu mang hình dạng con người.
“Không thể nào!”
“Sao có thể…?”
Tiếng xôn xao bật lên. Trước mắt khán giả, đôi tay ướt bấu vào thành bồn. Chúng đè mạnh xuống, nước tách ra, và một cô bé ngồi bật dậy. Mái tóc đen ướt dính vào lưng, cô bé ngẩng mặt nhìn cha mẹ mình. Cặp vợ chồng há hốc, khán phòng vỡ òa kinh ngạc.
“Ranya! Ôi, Ranya, đúng là con rồi!”, Người phụ nữ tháo mặt nạ, nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt ướt đẫm nước mắt, rồi ôm chầm lấy cô bé. Cô bé cười toe và nép vào lòng mẹ.
Khi mọi người còn chết lặng, Eleven thì thầm với Theo:
“Tôi ngửi thấy mùi kỳ nhông.”
“Không được mang chất dễ cháy lên tàu.”
“Không, không phải con kỳ nhông. Tôi nghĩ có lẽ là một loại dầu gì đó.”
Anh không ngửi thấy gì, nhưng vẫn đảo mắt quan sát. Mọi người vẫn dán mắt vào cuộc đoàn tụ đầy xúc động, còn Camicia cũng đang vui vẻ chứng kiến.
Người chồng là người đầu tiên cử động. Ông vuốt ve khuôn mặt cô bé và hỏi:
“Ranya, thật sự là con sao…?”
Nụ cười cô bé càng rộng hơn, cô áp tay cha mình vào má.
“Thật tuyệt vời khi hai người đã đoàn tụ với đứa con đã mất”, Camicia nói.
“Xin hãy nói với mọi người—”
“Đây không phải con gái tôi”, người đàn ông ngắt lời, giọng ông lạnh đến mức như máu trong người cũng ngừng chảy.
Camicia cau mày, người vợ bối rối.
“Nhưng, anh à”, bà phản đối, “chắc chắn là Ranya mà. Sao anh—?”
“Đúng vậy!”, Camicia khẳng định.
“Hãy nhìn kỹ đi. Thân thể vật lý đã được khôi phục hoàn hảo, và linh hồn con gái ông—”
“Linh hồn con tôi không ở đây”, người đàn ông rên lên, kéo vợ ra xa khỏi cô bé.
Sững sờ, cô bé nhìn lên ông, và ông nhìn thẳng vào mắt nó.
“Ngươi là giả, nhưng một mạng sống vẫn là một mạng sống”, ông nói, giọng yếu ớt. “Tha lỗi cho ta…”
Cùng lúc ông đưa tay vào túi, Eleven lao lên. Cô nắm lấy tay ông, bẻ ngoặt lên để lộ một chai nhỏ.
“Ông không được làm thế, thưa ngài. Nguy hiểm lắm.”
“Xin lỗi, cô. Mọi chuyện kết thúc rồi.”, Chai rơi khỏi tay ông. “Nó đã cháy sẵn rồi.”
Chai thủy tinh mong manh vỡ ra, nhưng bên trong rỗng không. Eleven quay ngoắt đầu lại, còn Theo mở to mắt kinh ngạc.
Cô bé trong bồn tắm đột nhiên giơ cả hai tay khỏi mặt nước. Trong chớp mắt, nó bốc cháy dữ dội.
Khán giả quanh bồn tắm hoảng loạn, tháo chạy. Camicia xé mặt nạ, chạy tới cô bé. Ông ta đổ chất lỏng trong bồn lên người nó, nhưng ngọn lửa vẫn không tắt.
“Làm sao—? Ông đã làm gì vậy?!”, ông ta gào lên.
“Tôi bôi dầu kỳ nhông lên tóc con gái tôi”, người đàn ông nói. “Để nó bốc cháy khi gặp phép thuật.”
“C-cái gì?!”, Camicia hét lên, trong khi trước mắt ông ta, cô bé bốc cháy từ bên trong và tan chảy vào nước trong bồn.
Dù ngọn lửa không bén sang gì khác, người vợ vẫn gào khóc thảm thiết, mất con lần nữa ngay trước mắt. Người chồng ôm lấy bà, ánh mắt hướng xuống bồn tắm.
Khi mọi người còn đứng chết lặng, Eleven ôm đầu, loạng choạng lùi lại. Theo vội chạy tới đỡ cô khi cô thu mình lại.
“Gì vậy, Alouette? Em ổn không?”
“…Xin lỗi. Tín hiệu mạnh quá. Chúng ta phải đưa mọi người ra khỏi đây ngay.”
Chưa hiểu ý cô, Theo còn đang bối rối thì một âm thanh vang lên—như vật gì nặng rơi vỡ, ở phía sau cánh gà. Anh quay phắt sang cánh sân khấu.
Camicia cũng quay lại, chỉ vào một nhân viên đầy nghi ngờ. “Anh, đi xem đi.”
“D-Dạ, thưa ngài…”
“Không! Ra ngay khỏi đó!”, Eleven quát nhân viên, cùng lúc nghe thấy tiếng cửa mở và tấm vách ngăn đổ ầm. Nhân viên vừa lảo đảo bước ra từ hậu trường, toàn thân đầy máu.
“Ông Camicia, có chuyện rồi!”, Nhân viên mặt tái nhợt. “Một người đột nhiên trở nên kỳ lạ—”
Cổ họng anh ta bị đâm xuyên từ phía sau. Mắt còn mở trừng trừng, anh ta ngã gục. Máu tươi phun lên tận trần nhà, tiếng hét chói lói khắp căn phòng. Kẻ đứng sau là một nhân viên khác, một phụ nữ. Nhưng cánh tay phải của cô ta đã biến thành một lưỡi kiếm từ vai trở xuống, uốn lượn như rắn. Ánh mắt cô ta vô hồn, rồi đầu đột ngột gập sang một bên, xương cổ gãy gập, đầu rũ xuống một cách quái dị.
Khán giả hoảng loạn bỏ chạy tán loạn như thể căn phòng đang bốc cháy. Lưỡi kiếm quét tới chặn lối thoát, nhưng Eleven túm lấy đầu lưỡi, áp sát chỉ trong tích tắc. Cô hất ngã người phụ nữ ra cánh gà rồi lập tức đóng sầm cửa lại.
“Tiểu thư!”, Camicia gào lên. “Còn nhân viên bên trong—!”
“Không. Họ không còn cứu được nữa.”, Eleven tựa lưng vào cửa, gỡ mặt nạ ra, nhìn Camicia đầy giận dữ.
“Ông lo cho bạn mình thì hơn? Họ cũng chẳng ổn đâu.”
“…!”
Camicia tái mét, quay phắt đi. Theo lao tới định chặn hắn, nhưng Camicia xô một người ngồi xe lăn về phía anh. Theo đành đỡ ông lão lên khỏi sàn để không bị đám đông giẫm đạp. Trong lúc đó, Camicia chen qua đám khách, bỏ chạy để tự cứu lấy mạng.
“Đồ hèn! Đừng có mà chạy, đồ khốn!”, Nhưng tiếng hét của Theo vô ích. Anh bực tức đá nát chiếc mặt nạ, hỏi người đàn ông: “Ông không sao chứ? Đi với ai?”
Người đàn ông run rẩy lắc đầu, một phụ nữ chạy tới, len qua đám đông đẩy xe lăn đi. Cô ta cảm ơn Theo trong nước mắt rồi đẩy xe rời khỏi căn phòng.
Khi đã sơ tán hết khách, Theo mới quay lại với Eleven, lúc này đang chặn từng nhát đâm xuyên qua cánh cửa.
“Xin lỗi đã để cô chờ, Eleven.”
“Không sao. Ra lệnh đi?”
Vị tiểu thư giàu có giờ đã biến mất. Trong mắt cô chỉ còn ánh nhìn của một con chó săn.
Anh rút súng, mở chốt an toàn. “Nó đã tấn công người. Không thể để sót. Tiêu diệt nó.”
“Rõ.”
Cô đá tung cửa, đẩy lưỡi kiếm ra rồi xoay mũi chân thành lưỡi kiếm chém dọc từ quai hàm dưới tới đỉnh đầu người phụ nữ.
Theo lập tức chĩa súng vào bóng người lao ra sau cô và bóp cò. Gã đàn ông loạng choạng ngã ngửa, nhưng vẫn đứng dậy. Cơ thể hắn phủ đầy chất lỏng bạc loang ra từ bụng. Hắn lao lên, toàn thân co giật, nhưng Eleven đã chém toạc người hắn, túm lấy tay rồi quật mạnh lên trần.
Cơ thể đập vào vật gì đó ngay phía trên đầu Theo. Anh nhìn lên thì thấy gã đã biến bốn chi thành chân nhện, đang nhìn anh lộn ngược.
Theo tưởng hắn sẽ lao xuống, nhưng hắn lại chạy bám vào tường rồi đâm lưỡi kiếm vào lỗ thông gió. Trước khi lưỡi kiếm kịp chạm vào, Theo đã bắn gãy chân hắn, và Eleven tung nhát kết liễu khi hắn rơi xuống sàn.
Gớm ghiếc, Theo suýt muốn nôn khi tra súng vào bao, nhìn quanh căn phòng. Đây chỉ là một căn phòng nhỏ với thùng gỗ, bể kính và khu bếp đơn sơ. Khi họ xông vào, nơi này đã thành biển máu, vài người chết nằm la liệt. Nhìn kỹ, anh nhận ra người đàn ông từng được nối tay trước đó cũng nằm đó, chết với vết thương chí mạng.
“Theo, bên này”, Eleven gọi, anh chạy lại bên cô.
Gã nhện gục chết, bốn chi bị chém đứt, cơ thể hắn chìm trong vũng nước.
“Amalgam bị hủy biến thành nước”, cô nói. “Hình như là nước biển.”
“…Có phải vì nó được tạo từ nước biển không?”, anh hỏi. “Nhưng tại sao chúng lại đột nhiên trở nên hung hãn?”
Những Amalgam trong hậu trường chính là ba người dùng proxy mà họ xác định lúc bắt đầu. Vì chúng không chảy máu khi tấn công, anh phải đoán là chúng đã bị giết trước đó và cơ thể bị chiếm dụng để sát hại phần còn lại của đội ngũ nhân viên.
“Nếu giao kèo hồi sinh người chết giống như proxy”, Eleven nhận định, “thì việc tiêu hủy Amalgam đã vi phạm vật phẩm cấm. Nhưng nó đã bị thiêu trước khi Amalgam kịp bộc lộ tính hung hãn. Tôi đoán rằng một proxy khác đã kích hoạt chế độ tấn công thay cho mẫu vật bị thiêu.”
“Giết vật chủ rồi quay về chỗ Camicia thì còn hiểu được, nhưng giết cả những nhân viên khác…”, Theo đáp. “Chẳng lẽ giống vụ Brouwers, muốn thủ tiêu toàn bộ nhân chứng?”
Vẫn còn chín người sử dụng proxy khác trên tàu. Và nếu không tính cái đã bị tiêu hủy cùng với hai cái đã dùng ở buổi salon, thì trong kho hàng vẫn còn năm Amalgam dự trữ. Nếu những mẫu còn lại cũng bị ảnh hưởng, ai biết hậu quả sẽ nghiêm trọng tới mức nào?
Đột nhiên Eleven đứng dậy rồi bước nhanh đi. Theo lập tức đi theo, thấy cô quỳ xuống gần bức tường. Mặc dù không thấy thi thể hay chai lọ đâu gần đó, nhưng mặt sàn vẫn ướt đẫm. Cô dịch những thùng hàng sang một bên, để lộ phần giấy dán tường cũng đã bị thấm nước và rũ ra.
Anh nhíu mày.
“Rò rỉ nước à?”
“Đây cũng là nước biển”, cô nói.
Buồng salon này không hề có cửa sổ. Boong sáu chỉ có khu sảnh tiếp khách, lại nằm trên mực nước biển, nên chuyện nước biển thấm được vào bên trong là điều không thể xảy ra.
Thế nhưng, ngay trước mắt họ, nước vẫn rỉ ra đều đặn, tấm thảm dần đổi màu.
Theo vừa định đứng thẳng người thì Eleven đổ sụp về phía anh. Hoảng hốt, anh vội đỡ lấy cô bằng cả hai tay. Cô áp tay lên trán, đôi mắt chớp liên hồi giữa sắc xám và đỏ.
“Gì vậy?! Lại thêm tín hiệu nữa sao?!”
“Chuẩn bị đi. Nó sắp tới rồi.”
Mắt Theo mở to đúng lúc con tàu rung lắc dữ dội, nghiêng sang hai bên như bị thứ gì đó tấn công từ dưới đáy biển.
*****
Tobias nghe thấy tiếng bước chân chạy ngược hướng với đám hành khách đang hoảng loạn tháo chạy, và anh lập tức ẩn mình sau cánh cửa. Anh nghe thấy cửa lối đi dành cho thủy thủ được mở ra, khác với cửa dẫn xuống cầu thang thoát hiểm. Nín thở, anh chờ khoảnh khắc kẻ kia chạy vào, rồi bất ngờ dùng cánh tay trái nhân tạo của mình đấm thẳng vào ngực hắn.
Bị đánh bật hơi thở ra ngoài, gã đàn ông ngã ngửa ra sau mà không kịp kêu tiếng nào — chính là Gino Camicia. Tobias cúi nhìn hắn, đôi mày cau lại.
“Thật vô trách nhiệm khi chỉ biết lo cứu mạng mình, Camicia.”
“A-anh là ai?”, Camicia lắp bắp. “Đám nhân viên đã nói gì với anh?”
“Đừng có mà giả vờ vô tội”, Tobias gằn giọng. “Ông thấy lũ proxy nổi điên, rồi chạy trốn như một thằng hèn.”
Mặt Camicia tái mét không còn giọt máu. Tobias đưa tay xuống thắt lưng để rút còng số 8, muốn bắt hắn thật nhanh trước khi chuyện tệ hơn, nhưng đúng lúc đó con tàu lắc mạnh sang một bên làm anh mất thăng bằng.
Camicia mở to mắt, kinh hoàng.
“Camicia, chuyện gì đây?”, Tobias quát.
“T-tôi biết gì được chứ…? Sao lại thành ra thế này…?”,
Camicia rên rỉ. Hắn lẽ ra phải là kẻ đứng sau tất cả mọi chuyện, vậy mà lúc này lại trông bối rối đến khó tin.
Tobias ngạc nhiên định với tay tóm hắn lại, thì bất thình lình một thứ gì đó lạnh như băng đập mạnh vào sườn anh, hất anh văng ra xa.
*****
Một hồi còi báo động chói tai vang lên. Tín hiệu vũ khí ma thuật mạnh mẽ khiến khu trục hạm Calwell lập tức rơi vào trạng thái báo động cao độ.
Emma lao xuống hành lang, khẩu katahr dạng súng bắn tỉa tì chặt vào vai cô.
“Xác nhận vũ khí ma thuật! Nó đã tiếp xúc với Havmonet từ đuôi tàu!”
“Bao giờ vậy?!”
“Không rõ. Có vẻ nó đã bất ngờ trồi lên. Khoan đã. Có nhiều tín hiệu vũ khí ma thuật nhỏ hơn! Quá nhiều!”
“Toàn bộ nhân viên, vào vị trí! Sử dụng hỏa lực chính bắn hạ mục tiêu!”
Emma phóng ra boong tàu, nhìn theo hướng con tàu đang tiến và chết lặng.
Mặt biển đang xoáy tròn quanh Havmonet. Đây không phải là vùng biển vốn có dòng chảy xoáy, vậy mà sóng nước cứ không ngừng xoắn lại quanh con tàu. Chúng đột ngột mạnh lên, dựng lên một bức màn bọt nước, giống như một con cá voi hoặc tàu ngầm đang trồi lên mặt nước.
Một con quái vật vặn vẹo, như thể cột nước bắn thẳng lên thành hình trụ. Những đợt sóng biển va đập, trào lên không trung, in bóng đen xuống mặt nước. Giữa những con sóng, Emma có thể thấy vài tinh thể đỏ rực sáng như đôi mắt kép. Những giọt nước mặn rơi lộp bộp xuống boong tàu. Con quái vật bằng nước biển uốn lượn tiến thẳng về phía Havmonet, đâm sầm vào thân tàu.
Con tàu nghiêng mạnh về một bên, gầm lên dữ dội. Trước khi một lượng lớn nước biển kịp tràn vào, một chùm ma pháp màu xanh lam phóng ra từ hỏa lực chính của khu trục hạm Calwell. Đó là ma pháp băng giá. Bị đánh trúng, khối nước khổng lồ đông cứng lại, nhưng băng lập tức rạn nứt rồi vỡ tan từ rìa ngoài. Hoàn toàn giống lúc Emma từng bắn vào kẻ đã đến thu hồi Amalgam, nó sẽ không bị đóng băng được lâu.
Nhưng mục tiêu của con quái vật đã chuyển từ Havmonet sang khu trục hạm. Đôi mắt đỏ lóe sáng dữ dội. Như hưởng ứng lại, mặt biển cũng bắt đầu phát sáng ánh đỏ. Thậm chí còn sáng hơn cả thủy triều đỏ, làn nước rực lên thứ ánh sáng đáng sợ và ghê rợn.
Emma gồng mình chờ đợi thứ ma pháp sắp sửa bắn ra, còn phía trước cô, quầng sáng đỏ dần nổi lên khỏi mặt biển, được bọc trong nước.
Con quái vật, trắng và gần như trong suốt như một con sứa, lơ lửng trong không gian, mang theo một lõi đỏ bên trong. Một con khác rồi một con khác nữa cứ thế hiện ra, bay qua lại trên không.
Tất cả bọn chúng cùng nhe nanh tấn công.
Nhìn đàn quái vật lao thẳng về phía khu trục hạm, Emma kéo cần súng katahr. Đạn phép Magirus Shell lập tức phóng ra, lan rộng thành luồng sét bắn xuyên qua những Amalgam trong tầm. Nhưng cứ tiêu diệt được một con thì lại có thêm những con mới hiện ra thế chỗ.
Trong lúc hệ thống vô tuyến của tàu náo loạn, Emma vội vàng bấm vào thiết bị liên lạc cá nhân.
“Theo! Tobias! Con Amalgam chính đang ở đây! Nó chính là đại dương! Nó đã ngụy trang thành mặt biển! Mau lên! Phải bắt được Camicia và giành quyền kiểm soát nó!”
Vừa dứt lời, cô lại siết cò súng. Dù tia sét từ katahr hay hỏa lực chính của tàu bắn trúng Amalgam, chúng cũng chỉ làm chậm chuyển động của nó tạm thời. Con quái vật vẫn bám riết lấy Havmonet, đổ nước biển lên tàu. Có lẽ vì những viên đạn ma thuật không đánh trúng lõi chính của nó, nên không thể gây đòn chí mạng. Nếu cứ tiếp tục thế này, con tàu sẽ chìm mất.
“Phải tiêu diệt lõi chính!”, cô hét lên. “Xác định vị trí bằng radar đi!”
“Không được! Cứ bắn hạ xong lại xuất hiện lõi mới! Không xác định được lõi chính đâu!”
Không còn thời gian để báo qua báo lại nữa. Những thủy thủ khác trên boong cũng đang chống trả bằng súng, nhưng họ chỉ có thể bắn rơi những Amalgam nhỏ đang bay vòng quanh. Dù cho hỏa lực chính của tàu có bắn trúng bao nhiêu lần, con Amalgam biển cũng không hề suy suyển. Chẳng ai còn đủ bình tĩnh để tìm được cơ thể chính, thứ có lẽ đang nằm sâu dưới đáy biển.
Emma nghiến chặt răng, kéo cò súng katahr thêm lần nữa.
*****
Nước biển ồ ạt tràn vào các boong sáu và bảy từ mạn trái. Vô số con mắt đỏ ngòm nhìn chằm chằm qua các ô cửa sổ, nỗi hoảng loạn bao trùm cả con tàu. Mọi người vội vã đóng các cửa kín nước, nhưng với lượng nước tràn vào như vậy, chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi con tàu chìm.
Lách qua đám đông hành khách đang hoảng loạn bỏ chạy, Theo rời tay khỏi thiết bị vô tuyến không phản hồi.
“Không có tín hiệu từ Tobias. Xem ra nên cho rằng Camicia đã tẩu thoát.”
“Khó xác định tình hình”, Eleven trả lời gọn lỏn.
“Ra lệnh đi?”
Theo theo bản năng ngoảnh lại nhìn cô. Anh cố tình nhìn sâu vào đôi mắt xám điềm tĩnh ấy, và nhịp tim cùng huyết áp đang dâng cao của anh dần dần chậm lại.
“Tín hiệu Amalgam trên tàu thế nào?”, anh hỏi.
“Tổng cộng mười bốn”, Eleven đáp ngay. “Tất cả đều ở trạng thái tấn công.”
Anh thở dài, dồn hết tiếng la hét hỗn loạn của hành khách và hướng dẫn sơ tán của thủy thủ vào góc não, cố lục lại trong đầu sơ đồ con tàu và các chương trình hướng dẫn có trong tập sách nhỏ.
“Giành quyền kiểm soát các Amalgam trên tàu trước, rồi đến bọn bên ngoài”, anh ra lệnh.
“Đồng thời, tìm Tobias. Tôi sẽ đuổi theo Camicia.”
“Anh đoán hắn đang ở đâu?”
“Trên tàu này ngoài thuyền cứu sinh còn có cả xuồng máy. Nó được đặt riêng ở một khu khác để phục vụ lớp học lặn gì đó. Tôi cá hắn sẽ hướng đến chỗ đó.”
“Rõ. Vậy thì, Theo…”
Anh tưởng cô sẽ đi ngay, nhưng Eleven lại tháo chiếc ruy băng buộc tóc, rồi nắm lấy cổ tay anh. Bất ngờ, anh ngẩng mặt lên, chạm thẳng vào ánh mắt xám của cô.
“Hãy cẩn thận”, cô nói. “Khi xong việc, tôi sẽ quay lại gặp anh.”
“T-Tôi biết rồi. Cô cũng vậy… chăm sóc Tobias giúp tôi.”
Cô quay người chạy đi, váy đỏ khẽ đung đưa, còn anh thì thở ra một hơi dài mà không nhận ra mình đã nín thở từ lúc nào. Anh cúi xuống nhìn cổ tay mình. Ẩn giữa gấu tay áo vest và đồng hồ là một vòng dây đen.
“Vậy là phòng bị rồi sao?”, anh lẩm bẩm. “Cũng yên tâm phần nào.”
Nắm chặt chiếc vòng mảnh thay cho bùa hộ mệnh, Theo lấy lại tinh thần và bắt đầu chạy ngược hướng với Eleven. Điểm đến của anh không phải là boong tám, nơi thủy thủ đoàn đang dẫn hành khách tập trung, cũng không phải boong ngoài trời ở tầng chín.
Trong tờ hướng dẫn, hành khách muốn tham gia các chương trình thể thao biển lại được yêu cầu tập trung ở tận boong mười ba. Chắc chắn chỗ đó có điểm then chốt. Tin vào trực giác, Theo chạy thẳng về phía đó.
*****
Cô lần theo các lõi của bọn Amalgam. Cô lần theo các tín hiệu phát sáng trên máy dò của mình. Có quá nhiều tín hiệu mờ nhạt ngoài con tàu, nhưng các tín hiệu trong tàu thì cô vẫn có thể truy đuổi được. Tất cả đều ở boong năm hoặc thấp hơn.
Eleven lao xuống cầu thang đang nghiêng. Gót giày cô gõ lên bậc thang vang lên tiếng cứng chắc, nước bắn tung toé. Nước tràn vào không ngừng, dù các cửa kín nước đã được khóa. Theo lời Emma, con Amalgam đang bắt chước biển. Trong trường hợp đó, cô có thể cho rằng một phần cơ thể nó cũng đang ở trong dòng nước biển này. Trong tình huống này, sẽ chẳng lạ gì nếu nó nuốt chửng bất cứ thứ gì chuyển động, nhưng nước biển chỉ lặng lẽ chảy qua.
Mục tiêu của việc làm ngập này không phải là để tấn công. Có lẽ nó đang tìm kiếm Camicia. Việc Theo chạm trán Amalgam là điều không thể tránh khỏi. Mình phải nhanh chóng quay lại với anh ấy. Vẫn chưa có liên lạc với Tobias.
Eleven dừng lại giữa lúc đang tính toán thời gian cần thiết. Một con Amalgam đang đập vào cánh cửa phòng hành khách trước mặt cô. Hình như ban đầu nó từng là một người đàn ông mặc vest, nhưng nửa thân trên giờ đã trắng bệch, trong suốt. Hắn ta biến hình thành một dạng kì quái với một lõi đỏ duy nhất nằm phía trên tim. Hắn gào lên những âm thanh không rõ ràng và đập mạnh vào cửa. Mục đích của hắn không rõ ràng. Ngay khi phát hiện ra Eleven, hắn quay ngoắt lại.
Nhưng đã quá muộn.
Cô lách qua cánh tay phải hắn đang vươn ra như một cây thương và lao thẳng vào sát ngực hắn. Cái đầu tan nát của hắn vừa kịp nhìn thấy cô, nhưng động tác của hắn quá chậm. Cô chống tay xuống sàn, lấy đà, rồi quét chân trái, giờ đã biến thành lưỡi kiếm. Đối phương ngửa đầu ra sau, nhưng không kịp. Trong trạng thái nhầy nhụa, không giáp trụ hay bảo vệ, cơ thể hắn dễ dàng bị chém đôi. Lõi đỏ vỡ tan ra từ giữa hai nửa thân thể.
Khi con Amalgam tan chảy vào làn nước dưới sàn và biến mất, cô nghe thấy tiếng thở gấp bên trong phòng.
Cô gõ cửa.
“Có ai ở trong đó không? Tàu đã phát lệnh sơ tán.”
“Ai đó? Con quái vật đã biến mất chưa?”, Giọng run rẩy của một người phụ nữ vang lên.
Eleven lấy lại vẻ điềm tĩnh.
“Tôi tên là Alouette Cormolone. Tôi cũng là hành khách trên tàu này. Khi tôi đến đây thì bên ngoài không có gì cả. Hai người có thể tự sơ tán được chứ?”
“Alouette… Ồ, người chơi piano! Tạ ơn trời! Làm ơn. Cô phải gọi ai đó giúp chúng tôi.”
Giọng một người đàn ông nối tiếp giọng người phụ nữ. “Tôi nghĩ khung cửa bị kẹt rồi; cửa không mở ra được. Cô có thể giúp chúng tôi không?”
Có vẻ chỉ có hai người trong phòng.
“Tôi sẽ xử lý ngay”, Eleven đáp gọn lỏn.
“Xin hãy chờ một chút.”
Hành lang đang ngập nước, và cánh cửa mở ra ngoài không thể xê dịch vì áp lực nước và sàn bị nghiêng. Cô giơ chân định đá tung cửa, nhưng rồi nhận ra sai lầm và nhanh chóng điều chỉnh. Cô tháo găng tay, biến nó thành một thanh xà beng, rồi áp vào khe cửa bị móp méo.
“Tôi sẽ nạy cửa bằng xà beng”, cô nói lớn. “Xin hãy nắm chặt tay nắm cửa và phối hợp với tôi.”
“C-cô nói sao? Được rồi, xin hãy thử…”
Trong giọng người đàn ông đầy bối rối, nhưng cô cảm nhận được anh ta đã áp sát cửa, và tay nắm cửa động đậy. Thấy vậy, cô nạy mạnh cửa bằng xà beng và kéo hai người ra ngoài.
“Cô cứu chúng tôi rồi. Cảm ơn cô.”
“Không có gì”, Eleven đáp ngắn gọn.
“Xin hãy đi thang bộ và nhanh chóng lên boong tám. Ở đó có thuyền cứu sinh.”
“Cảm ơn cô rất nhiều. Nhưng còn cô thì sao?”
“Tôi sẽ đi xem còn ai cần giúp đỡ không. Tôi mang họ Cormolone, nên tôi phải hành xử sao cho không làm ô danh nó.”
Người phụ nữ thốt lên kinh ngạc, còn người đàn ông thì mở to mắt, nhưng anh ta chỉ nói, “Cảm ơn cô”, rồi cả hai vội chạy đi.
Ánh mắt họ mang theo sự ngưỡng mộ, không hề có nghi ngờ gì. Sau khi chắc chắn rằng họ sẽ không cản trở nhiệm vụ của mình, Eleven bắt đầu chạy tiếp, vẫn cầm chặt thanh xà beng. Nước từ boong sáu tràn xuống boong năm.
Vì trời vẫn còn sáng nên hầu hết khách đều ở bên ngoài, không nhiều người ở trong cabin. Nhưng số hành khách trong cabin không phải là không có, cô cần nhanh chóng tiêu diệt những Amalgam lang thang và sơ tán những hành khách còn lại lên boong tám trước khi tàu chìm hoàn toàn.
Việc cứu hành khách không nằm trong mệnh lệnh của tôi. Nhưng nếu Theo ở đây, khả năng cao anh ấy sẽ cứu họ.
Không còn thời gian để do dự. Nhưng vì có khả năng bị con người trên tàu nhìn thấy, tốt nhất nên tránh biến cơ thể thành vũ khí như vừa rồi.
Bọn Amalgam nghe thấy tiếng nước và quay lại. Thân thể vật chủ của chúng đã biến dạng một nửa, trông như đang tấn công bất cứ ai nhìn thấy khi chúng men xuống cầu thang. Camicia chắc chắn sẽ không xuống khu vực nguy hiểm này, nên hẳn chúng có mục đích riêng.
Mục tiêu chưa rõ ràng. Nhưng chúng không săn mồi. Chúng cũng không đủ mạnh để phá cửa. Chuyển động chậm, không giáp trụ. Tiêu diệt rất đơn giản. Không cần do dự.
Hành lang hẹp, cô không thể lách qua bọn Amalgam với thân thể nửa hỏng đó. Tất nhiên, chúng sẽ phải lần lượt đối đầu với Eleven. Cô có thể tiêu diệt chúng mà vẫn kịp thời gian.
Một phút.
Cô xác định khoảng thời gian cho phép và bước lên, nhanh hơn cả tốc độ âm thanh. Cô lướt trên sàn ướt, quét chân hạ gục con đầu tiên, rồi đập vỡ lõi trong phần đầu trắng trong suốt bằng xà beng. Tận dụng đà, cô đập vỡ hàm dưới của con thứ hai, xoay người, lao qua phần thân trống rỗng. Bị đập vào tường, lõi của nó vỡ tan, cô lướt qua người đàn ông ngã xuống và nhảy lên.
Cô đưa tay lên trần thấp, và trước khi con thứ ba kịp quay lại, cô tung cú đá vào cổ nó. Chúng không có cơ thể rắn chắc. Chỉ là những khối thịt mềm oặt. Cô dễ dàng tung đòn chí mạng bằng xà beng.
Một lõi khác vỡ tan, Eleven bước tiếp về phía trước. Còn năm tên.
Cô dùng xà beng đánh vào đầu người phụ nữ đang lao về phía mình, ngay khoảnh khắc kẻ địch khựng lại, Eleven tung cú đá vào đầu gối, phá vỡ lõi bên trong. Mặc kệ vạt váy đang bị thấm ướt, cô lao tới, đẩy cánh cửa vừa hé mở bằng tay, rồi đâm thẳng xà beng, hạ gục lõi trong bụng con Amalgam khác.
Cô đập thân thể đó vào tường, rút xà beng ra, né mấy xúc tu chực chờ bám lấy, rồi trong khoảnh khắc đối phương lảo đảo, cô tung cú đấm phá nát lõi ở vai hắn. Một người đàn ông với đôi mắt trắng đục trong suốt đang lững thững tiến tới, hai tay giơ lên không trung, cô đập đầu hắn vào tường, phá tan lõi trước khi hắn kịp quay lại.
Chỉ còn một tên.
Nhưng một cánh cửa bật mở chặn lối. Một người đàn ông vung ghế lao ra hành lang. Cô nghe thấy giọng một phụ nữ và một đứa trẻ trong phòng. Trước khi người đàn ông kịp quay đầu, trước khi con Amalgam kịp vào thế tấn công, Eleven lên tiếng: “Dừng lại. Anh sẽ chết đấy.”
Người đàn ông rùng mình như bị điện giật, đông cứng tại chỗ. Xúc tu của con Amalgam đung đưa qua lại, Eleven bật nhảy. Cô nhảy qua người đàn ông, gần như chạm trần, rồi dùng gót giày móc đôi mắt con Amalgam. Chỉ với lực tiếp đất, đầu nó vỡ tan hoàn toàn. Gót giày cô đâm thẳng, phá nát lõi trong ngực, tiêu diệt kẻ cuối cùng.
Phía trước vẫn còn hành khách. Nhưng cũng còn năm lõi Amalgam nữa, tập trung về hướng hầm hàng. Cô không thể cứu hết con người. Cô còn việc quan trọng hơn là giữ bộ mặt con người.
Lần theo những tiếng kêu cứu, Eleven mạnh tay nạy cửa bằng xà beng. Hai người phụ nữ nín thở, mắt mở to, bước ra hành lang.
“Các cô không bị thương chứ?”, cô hỏi.
“Vẫn còn hành khách chưa kịp sơ tán. Xin hãy hỗ trợ nhau thoát ra và nhanh chóng lên boong tám. Dùng xà beng này giúp họ. Nếu không chắc mình đủ sức, hãy tìm thuyền viên.”
“Cô là ai vậy?”, một người phụ nữ định hỏi.
“Boong này sắp chìm rồi. Mau sơ tán.”
Họ đón lấy xà beng với gương mặt tái nhợt rồi chạy biến.
Eleven chạy ngược hướng.
Bảo vệ. Bảo vệ. Bảo vệ. Bảo vệ. Tín hiệu đơn giản đó tràn ngập không khí. Nó cũng phát ra tiếng gọi cho cảm biến của một Hound, và Eleven lập tức đuổi theo.
Với việc Amalgam trong sảnh chuyển sang trạng thái tấn công, các proxy ở khu vực khác cũng đồng loạt hành động. Kích hoạt của chúng là do vụ thiêu hủy Amalgam. Không chỉ vì vi phạm vật cấm, mà có lẽ chúng còn tuân theo tín hiệu của Amalgam chính.
Nếu mục tiêu của chúng là xử lý nhân chứng, như Theo đã suy đoán, thì lẽ ra chúng phải đuổi theo hành khách đang chạy và tiến về boong tám. Nếu mục tiêu là bảo vệ Camicia, thì chúng phải lập thành đội hình quanh hắn thay vì tấn công. Amalgam chính hẳn đang có một mục tiêu khác, không thể lay chuyển.
Cô lao qua boong năm, lách qua quầy tiếp tân hoang vắng rồi dừng lại. Phía trước bị chặn bởi cửa kín nước. Cô áp tai nghe rồi nhanh chóng xoay tay nắm. Khu vực bên trong đã ngập, nhưng từ âm thanh, nước không đọng lại mà đang chảy xuống dưới.
Khi mở cửa bước vào, nước ngập đến mắt cá chân. Cô đóng lại cửa kín nước, rồi tiến lên. Một lỗ lớn trên trần khu vực thang máy đang tuôn nước ồ ạt. Cầu thang dẫn lên boong sáu đã sụp từ chiếu nghỉ, qua lỗ đó, cô có thể nhìn thấy dây cáp thang máy bị xé rách, tóe tia lửa cùng ròng rọc.
Tobias đang trực ở boong sáu.
Eleven bật khỏi cầu thang, đạp tường rồi phóng lên boong sáu. Có một lối ra ở hành lang thủy thủ trên cầu thang khẩn cấp. Cô đoán Camicia đã chọn lối thoát hiểm khác với hành khách, và nếu Tobias đang phục kích thì chắc chắn là ở đây.
Cô mở cửa rồi sững lại.
Lỗ mà Amalgam đã tạo ra từ mạn trái boong sáu nằm ngay trên hành lang thủy thủ. Đoạn hành lang từ cầu thang đến sảnh thang máy đã bị đập nát, nước biển đổ xuống ào ào.
“…Ta là chỉ huy. Nghe ta, sợ ta, cúi đầu trước ta.”
Tín hiệu mệnh lệnh không nhận được phản hồi. Lý do tín hiệu ngoài tàu mờ nhạt khác thường không chỉ vì vô số con repro bay qua lại, mà còn bởi cơ thể chính của Amalgam đang ở xa ngay từ đầu.
Bọn Amalgam vẫn liên tục phát tín hiệu rõ ràng: Bảo vệ. Nếu lý do đám proxy chuyển sang tấn công rồi tiến về phía cầu thang là để loại bỏ kẻ thù bên ngoài thì sao?
Nếu bọn Amalgam coi việc Tobias bắt Camicia là tấn công chỉ huy của chúng thì sao?
Eleven lập tức lao mình vào cái hố lớn, đen ngòm.
*****
Tobias nghe tiếng nước nhỏ giọt và nhăn mặt rên rỉ. Toàn thân anh đau nhức. Chưa kể, anh ướt sũng và lạnh thấu xương.
Anh cố mở mắt ra, cau mày nhìn vào khoảng tối khó chịu trước mặt. Anh không biết mình đang ở đâu. Anh đã nằm chờ Camicia trên cầu thang, gần như bắt được hắn. Rồi anh bị một cú đánh mạnh. Cú đó từ đâu ra chứ?
Một ánh sáng đỏ mờ ảo lơ lửng giữa bóng tối.
Đèn khẩn cấp ở kho hàng sao?
Có vẻ như anh đã bị rơi xuống đây, nhưng mấy thùng hàng đã đỡ cú ngã, cứu anh thoát chết. Anh cố đứng dậy, nhưng mặt sàn chao đảo quá mức khiến anh không giữ được thăng bằng. Nước đổ xuống như thác. Anh gượng nâng nửa thân trên khỏi đống thùng, nhận ra nước đã dâng lên tới chân và sững người.
Ghế xếp bằng kim loại, giấy tờ, bàn làm việc nặng và tủ thép nổi lềnh bềnh xung quanh anh, và anh nhận ra cầu thang từ tầng sáu xuống văn phòng tầng bốn đã bị phá hỏng. Một luồng sợ hãi lạnh buốt chạy dọc sống lưng anh. Thật là một kỳ tích khi anh chỉ bị một cú đập vào đầu mà thôi.
Căn phòng tối om, và anh chỉ thấy được ánh sáng mờ ảo phía bên kia thác nước biển. Anh đảo mắt tìm xem có ai trong đội bị thương không, nhưng rồi đột nhiên anh chết lặng.
Ánh sáng đỏ mà anh đang nhìn đã biến mất.
Trong văn phòng này có thứ gì phát ra ánh đèn đỏ sao?
Giữa không gian tối đen, anh chỉ nghe thấy tiếng nước chảy và tiếng thở của chính mình.
Tobias đưa tay xuống thắt lưng. Khẩu súng và đèn pin đã biến mất. Anh đã làm rơi chúng khi va đập lúc ngã sao?
Cạch. Anh nghe thấy một âm thanh nặng nề.
Chẳng có thứ gì di chuyển trong tầm mắt anh; âm thanh dường như phát ra từ dưới nước. Cảm giác ướt lạnh ở các ngón chân kéo anh trở lại thực tại, và anh vội vã leo lên đống thùng. Mực nước đang dâng nhanh hơn anh tưởng.
Ngay khoảnh khắc anh bám vào tấm bạt phủ một container, anh nghe thấy một âm thanh, và nước bắn tung tóe. Anh ngoảnh lại, và mọi lời lẽ biến mất khỏi đầu anh.
Một khối khổng lồ trắng bán trong suốt, hình người vặn vẹo kết hợp từ container, tủ sắt, bàn ghế và đủ thứ vớ vẩn khác, đang từ từ trồi lên khỏi mặt nước. Năm lõi đỏ lấp lánh ánh sáng đe dọa.
Những Amalgam cất giữ trong kho hàng đã bắt đầu di chuyển.
Con khổng lồ vung nắm đấm phải lên, phát ra tiếng rền rĩ kim loại. Chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, Tobias đã bị đấm văng xuống nước. Mấy thùng hàng ầm ầm đổ xuống từ trên, anh phải hất chúng ra, dùng giá kệ gần tường làm điểm tựa rồi ngoi đầu lên khỏi mặt nước. Con quái khổng lồ từ từ quay về phía anh.
“Quá, quá, quá, quá đáng thật đấy?”
Cái bóng đen khổng lồ đổ ụp lên anh, chặn hết chút ánh sáng le lói chiếu từ boong tàu phía trên xuống. Tóc ướt dính bệt vào trán, anh cảm nhận làn nước ngày càng lạnh buốt, ngửi thấy mùi biển mặn chát và băng giá. Mặt anh tái đi vì mối đe dọa trước mắt, tay chân tê cứng. Tất cả gợi lại ký ức bị chôn sâu tận đáy tâm trí.
Khi mắt anh đã quen với bóng tối, những thứ anh thấy chỉ toàn là đồ dùng văn phòng. Vậy mà trong bóng đen ấy, anh như nhìn thấy cả vật liệu đóng tàu và lan can. Trong bóng dáng treo lơ lửng trên đầu, anh ảo giác thấy một cần cẩu rơi xuống từ trần. Anh không thở nổi. Anh đặt tay lên ngực khi nắm đấm tủ sắt khổng lồ lao về phía mình.
Tia lửa tóe ra khắp nơi khi thép đập mạnh vào thép. Tà váy đỏ tung lên trong không khí, và một lưỡi kiếm vẽ ra vệt sáng hình lưỡi liềm nhợt nhạt.
Eleven đã chém nát cánh tay phải của Amalgam và đáp xuống đống thùng. Cô quay đầu nhìn lại anh với gương mặt như mọi khi.
“Tôi đã tìm thấy anh rồi, Tobias. Anh vẫn ổn chứ?”
“Eleven!”, anh hét lên. “Cô cứu tôi thật rồi.”
Cô chộp lấy một kệ gần đó, ném mạnh vào nắm đấm bàn làm việc. Mất thăng bằng, con quái khổng lồ đổ ầm xuống.
“Để Amalgam cho tôi”, Eleven nói to át tiếng nước ào ào. “Anh hãy tiếp tục truy bắt Camicia. Chúng tôi cho rằng hắn đã chạy khỏi tàu. Theo đang đuổi theo.”
“Rõ rồi. Miễn kho hàng còn nguyên thì vẫn còn đường đi.”
Tobias bám lấy cái thang dựng sát tường, bơi về phía đống thùng.
Eleven dựng thang lên tầng trên và kéo anh lên. Bàn tay nhỏ nắm lấy anh mang lại cho anh cảm giác an tâm lạ lùng.
“Tôi không tưởng tượng nổi cô lại đến”, anh nói. “Tôi cứ nghĩ Theo mới là ưu tiên của cô.”
“Đúng là một Hound thì chủ nhân luôn là số một”, Eleven đáp đều đều, nhưng đôi mắt xám nhìn Tobias lại đầy dịu dàng.
“Nhưng chúng ta là một đội. Giống như anh hỗ trợ Theo và Emma, tôi cũng hỗ trợ anh.”
“Eleven.”
“Nỗi sợ của anh không ở đây. Mau lên”, cô nói bằng giọng không chút cảm xúc, như đang nói điều hiển nhiên, nhưng cô đã tiến lại gần anh, dù gương mặt vẫn vô cảm như mọi khi.
Tobias chợt nhận ra cơ thể anh đã tự do cử động trở lại, dù chỉ ít phút trước anh còn bị nỗi sợ hãi ghì chặt. Anh cười toe và đặt chân lên bậc thang.
“Cảm ơn, Eleven. Cô đúng là thiên thần.”
“Không, tôi là vũ khí.”
Cuộc đối thoại này nghe sao mà quen thuộc. Tobias vội vã trèo lên boong tàu.
*****
Emma bóp cò. Nạp đạn phép Magirus Shell. Bóp cò. Nạp đạn phép Magirus Shell. Chỉ là lặp đi lặp lại, nhưng nếu cô mất tập trung dù chỉ một giây, cô sẽ bị thương chí mạng chỉ với một cú cắn. Cô phải giữ căng thẳng.
Cô đã bắn phép sét không biết bao nhiêu lần liên tiếp, vai phập phồng, não như sôi lên. Một làn hơi nóng như ảo ảnh lượn lờ trước tầm nhìn. Cô siết chặt lại chuôi khẩu katahr đang ngày càng nặng và bắt buộc bản thân phải tập trung hơn nữa.
Những Amalgam bay lượn xung quanh có kích thước chỉ bằng cái đầu người, nên cô vẫn tránh được đòn tấn công của chúng. Nhưng chúng nắm rất rõ những điểm yếu của con người, và chỉ cần sơ sẩy, chúng sẽ xé rách động mạch chủ. Hai thuỷ thủ trên boong đã bị thương chí mạng, đội y tế phải vội vã đưa họ đi.
Họ bị cuốn vào một cuộc chiến tiêu hao, nhưng Amalgam thì không có hồi kết. Liệu trận chiến này có kéo dài cho đến khi biển cạn khô không? Emma choáng váng trước ý nghĩ đó, vừa lúc bắt gặp bóng một Amalgam nơi khoé mắt, cô lập tức đổ người xuống boong tránh đòn. Ngay sau đó, cô chống một đầu gối xuống và bóp cò khẩu katahr. Một tia sét xé nát lõi Amalgam, nhưng khoảng bình yên chỉ kéo dài trong chốc lát.
“Pháp sư!”, một thuỷ thủ gọi lớn. “Xin hãy lùi lại! Cô sắp cạn sức rồi!”
“Tôi không thể. Nếu chúng ta mất thêm người nữa”
Cô bỏ lửng câu nói. Thứ gì đó nóng hổi đang nhỏ từ mũi xuống miệng cô. Cô tự hỏi không biết bộ não mình đã tan chảy và đang rỉ ra ngoài rồi sao. Nhưng khi cô lau bằng mu bàn tay, găng tay cô dính đầy máu đỏ tươi.
Ma thuật có giới hạn. Dù cô dùng katahr và Magirus Shell để giảm gánh nặng cho cơ thể, nhưng một khi ma lực cạn kiệt thì cơ thể sẽ bị tổn thương.
Lần này thì chảy máu mũi sao?
Cô quệt sạch máu đang nhỏ giọt.
“Thế này vẫn còn đỡ hơn là tay chân tê liệt. Tôi vẫn tiếp tục được.”
“Nhưng cô đâu phải lính! Cô không thể!”
Như để ngắt lời kêu than của người thuỷ thủ, bộ đàm vang lên một tiếng tít. Là tín hiệu từ sĩ quan liên lạc.
“Phát hiện tàu lạ không treo cờ! Xác minh! Xin hãy trả lời!”
Emma bóp cò thêm lần nữa, rồi nhìn lại khi tình hình quanh cô tạm ổn hơn. Quả thật có một con tàu đang tiếp cận.
“Đây là tàu cứu hộ Takara thuộc Lữ đoàn Cứu trợ Banthobuk. Chúng tôi sẽ lập tức yểm trợ cho tàu của các bạn.”
Sau khi giọng nói điềm tĩnh của một người phụ nữ vang lên, một bầy bóng đen phóng ra khỏi boong tàu. Một đàn quạ. Chúng dùng cánh đánh bật đám Amalgam, ngăn không cho lũ Amalgam nhỏ tiếp cận tàu khu trục.
Con tàu cứu hộ Takara tiếp tục tiến gần chiếc Havmonet đang nghiêng ngả.
Một con quạ đáp xuống boong tàu khu trục, mang theo một người phụ nữ nhảy xuống từ yên của nó. Váy truyền thống vùng Đông Akaryazan và chiếc áo choàng trắng tung bay quanh cô. Tóc cô được búi gọn gàng, không một sợi lòa xòa, trên lưng đeo cung tên. Chính là Chensey Saika, người mà Emma vẫn để mắt đến.
“Xin lỗi vì đã đến muộn thế này”, Saika nói. “Cô đã chiến đấu rất tuyệt.”
“Chị không thực sự từ vùng chiến sự chạy đến đây đấy chứ?”, Emma hỏi, kinh ngạc.
“Mọi chuyện này đều là lỗi của dân chúng tôi. Chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm.”, Saika đưa cho Emma một chai nhỏ. Bên trong toả ra mùi thảo dược đặc trưng.
“Uống cái này đi. Nếu tiếp tục thế này, não cô sẽ cháy sạch mất.”
“C-cảm ơn…”
Chưa để Emma nói hết câu, Saika đã giương cung. Mũi tên cô bắn ra biến thành nhiều tia sáng đâm xuyên lũ Amalgam. Một cơn bão ánh sáng trút xuống từ bầy quạ, lập tức xoay chuyển cục diện trận chiến.
Nhưng Emma vẫn chưa thể nghỉ ngơi. Cô ngửa đầu uống cạn chất lỏng trong chai một hơi.
*****
Vai phập phồng, Theo lao lên boong tàu tầng mười ba. Anh lách qua dòng hành khách đang tuân thủ lệnh sơ tán và tiến thẳng đến hồ bơi ở mũi tàu. Là nơi tập trung cho những người chơi thể thao dưới nước, hồ bơi này không có mái che hay tường bao mà chỉ là một khoảng hở trên boong tàu.
Khẩu súng cầm sẵn trong tay, anh lao về phía hồ bơi và nhìn thấy những sợi dây thép đang thòng xuống từ lan can boong tàu, rủ ra mép ngoài con tàu. Anh nghiêng người qua lan can và thấy một chiếc canô máy đang đậu trên mặt biển. Người đàn ông anh đang truy đuổi ngẩng lên nhìn, rồi hốt hoảng khởi động động cơ.
“Đừng hòng chạy thoát, Gino Camicia!”, Theo hét lớn, đồng thời bắn một phát cảnh cáo.
Mặc kệ, Camicia vẫn lái canô lướt đi, và Theo bực bội bật tiếng tặc lưỡi. Anh đảo mắt tìm xem có chiếc canô nào khác không thì quay phắt lại khi nghe ai đó gọi tên mình. Tiếng gọi phát ra từ mặt biển bên dưới.
Nhìn xuống, anh thấy Tobias đang cưỡi mô tô nước chạy song song với con tàu.
“Theo!”, Tobias hét. “Dùng dây đi! Xuống đây mau!”
“Anh— Gì cơ—? Sao anh…?”
Khoé miệng Theo cong lên vì nhẹ nhõm khi thấy Tobias vẫn an toàn và cũng vì phấn khích khi có thể tiếp tục truy đuổi Camicia. Anh quấn khăn tay quanh bàn tay rồi túm lấy sợi dây thép, trượt người xuống mặt biển bên dưới. Anh nắm chặt tay Tobias rồi ngồi xuống yên sau trên chiếc mô tô nước.
“Nhìn coi kho báu anh vừa tìm được kìa!”, Theo reo lên.
“Chúng tôi để nó trong kho để dùng khi tàu không thể cập cảng.”,
Tobias cười toe và vặn ga tăng tốc chiếc mô tô nước. Theo kiểm tra số đạn còn lại rồi nheo mắt nhìn về phía trước.
Tiếng máy mô tô nước làm Camicia quay lại nhìn, hắn hoảng loạn thấy rõ, nhưng chiếc canô máy có vẻ không thể chạy nhanh hơn được nữa. Khoảng cách giữa hai bên dần thu hẹp, Theo siết chặt khẩu súng và chỉnh lại tư thế ngắm.
“Bọn chúng đấm tôi bất tỉnh khi tôi tính bắt hắn”, Tobias hét át tiếng sóng.
“Ai biết Amalgam sẽ làm gì nếu cậu bắn hắn?”
“Tôi sẽ không bắn hắn. Thằng hèn đó sẽ chết khiếp chỉ cần tôi bắn vỡ cửa kính thôi.”
Theo hơi loạng choạng vì chỉ dùng một tay, nhưng khoảnh khắc anh thở ra đến khi phổi trống rỗng, anh bóp cò.
Tấm kính phía trước của chiếc canô vỡ tan, con thuyền chao đảo dữ dội. Tobias lập tức ép sát mô tô nước lại gần.
Cất súng vào bao, Theo bám lấy vai Tobias rồi đứng lên yên mô tô nước.
“Tôi nhảy qua đó”, Theo nói. “Giữ sát nhé!”
“Chết tiệt, cậu thật là…!”, Tobias rủa một câu nhưng vẫn nghiến răng xoay mạnh tay lái.
Lợi dụng đà, Theo lao người về phía trước, phóng sang canô máy. Camicia hét lên thảm hại, lúng túng rút súng ra nhưng Theo đã nhanh tay gạt phắt khẩu súng và bẻ quặt tay hắn ra sau. Anh bập còng tay lên cổ tay Camicia khi chiếc canô bắt đầu giảm tốc.
“Ngươi đúng là không biết khi nào nên bỏ cuộc”, Theo gằn giọng.
“Lừa đảo, trộm cắp, thậm chí cả phóng hỏa và giết người, ngươi sẽ khai ra hết mọi chuyện, Gino Camicia. Hay chúng tôi nên gọi là Giorgio Santoro?”
“Khốn kiếp! Sao mày biết cái tên đó…?!”,
Camicia giãy giụa, đá đạp loạn xạ nhưng khi Theo dí hắn ngồi xuống ghế, hắn chỉ biết há miệng thở hổn hển.
“Vì sao ngươi bắt Amalgam bắt chước thành nước biển?”, Theo tra hỏi. “Còn cho nó tấn công con tàu nữa?”
“Tôi không ra lệnh như thế! Tôi chỉ bảo nó ẩn nấp để không ai phát hiện ra, và bảo nó bảo vệ tôi nếu có gì xảy—”,
Camicia thở gấp, giọng ngắt ngang.
Theo cũng sững sờ ngẩng đầu lên, không thốt nổi lời nào.
Một con sóng lớn bất ngờ ập tới, nhấn chìm chiếc canô máy, nuốt trọn tầm nhìn và cả tâm trí của Theo.
*****
Ngồi trên chiếc mô tô nước chạy song song với chiếc thuyền, Tobias còn chưa kịp kêu lên thì con sóng khổng lồ đã ập đến bất ngờ. Khi đợt sóng rút đi, thứ duy nhất còn nổi trên mặt nước chỉ là chiếc canô máy đã bị lật úp.
“Theo! Theo!! Cậu ở đâu?!”, anh tuyệt vọng gào lên nhưng chẳng có hồi đáp nào.
Chỉ còn tiếng sóng biển vỗ nhè nhẹ, mặt nước lại trở về vẻ yên ả. Anh quay phắt người lại và nhìn thấy những tảng đá lớn nhô lên khỏi mặt biển, xếp thẳng hàng như những cây cột.
Chính nơi này là chỗ các vụ tai nạn đã xảy ra.
“Không thể nào…”
Tobias lập tức xoay người, rồ ga cho chiếc mô tô nước phóng đi.
*****
Súng katahr sẵn sàng trong tay, Emma cảm thấy có gì đó không ổn nên hạ nòng vũ khí xuống.
Những Amalgam đang bay loạn trên không trung cũng đã ngừng lại. Con Amalgam đại dương bên cạnh Havmonet cũng bất động. Bầy quạ đen xoáy vòng trên cao cũng dừng tấn công.
Mọi người đều nín thở quan sát, không hiểu chuyện gì đang xảy ra, thì Amalgam đại dương đột ngột tan rã, mất hình dạng và biến mất vào làn sóng. Cùng lúc đó, những Amalgam nhỏ hơn cũng lần lượt lao xuống biển.
“Tín hiệu vũ khí ma thuật đã biến mất. Không thể truy đuổi.”
“Nó biến mất? Tại sao lại đột ngột như vậy…?”
Emma khuỵu xuống boong tàu, mắt nhìn ra mặt biển yên ả đến khó tin.
Theo đang bị kéo đi với một lực mạnh khủng khiếp. Tầm nhìn và cơ thể anh xoay tít. Hoàn toàn không biết mình đang bị kéo theo hướng nào, anh chỉ có thể nín thở. Dù mở mắt ra, anh cũng chẳng nhìn thấy bóng dáng Camicia đâu cả; chỉ toàn một màu xanh. Anh không biết liệu mình đang nhìn lên mặt biển hay đáy biển.
Anh quờ quạng bám vào một tảng đá hay thứ gì đó, nhưng tay trượt đi và anh lại bị cuốn ra xa.
Đây là tác phẩm của Amalgam bắt chước đại dương sao? Hay nó đã ăn xong rồi? Tobias có an toàn không? Tình hình bên ngoài con tàu thế nào? Anh không thể nghĩ thông được gì khi đang chết đuối thế này. Trong lúc hoảng loạn vô thức, cuối cùng anh cũng va vào một thứ gì đó.
Một bức tường đá thô ráp. Nếu đây là bờ biển, anh có thể lần theo nó để trở lại mặt nước. Anh mở mắt ra, và khi thấy nơi mình đang ở, sắc mặt anh lập tức tái đi.
Anh đã lọt vào một hang đá dưới nước. Khi cố bơi ra, anh bị dòng thủy triều đẩy ngược lại. Anh bám tay vào miệng hang nhưng rêu trơn trượt làm tay tuột ra, và đáy hang thì phủ đầy vỏ sò hay gì đó khiến chân anh không thể bám được. Anh cố thả lỏng để nổi lên nhưng chỉ bị đẩy sâu hơn vào hang.
Không khí. Mình cần không khí. Nếu không ra được thì
Móng tay anh cắm sâu vào lớp rêu. Tầm nhìn bắt đầu nhòe đi, chân không ngừng trượt khỏi chỗ bám. Dù vùng vẫy thế nào, anh cũng không tài nào tiến gần hơn tới luồng sáng, và một bức màn bong bóng che khuất tầm nhìn.
Giữa tầm mắt mờ mịt, chỉ còn ánh sáng lạnh lùng phản chiếu, bỗng lóe lên một vệt đỏ rực.
“Theo, lối này.”
Anh bị kéo lên bởi một lực mạnh bất ngờ, một bàn tay chạm nhẹ lên má. Vừa kịp mở mắt ra trước giọng nói mà lẽ ra anh không thể nghe thấy dưới nước, tầm nhìn của anh đã bị che khuất bởi một tấm màn bạc ánh lên lấp lánh.
Trước khi kịp phản ứng, thứ mềm mại đã chạm vào môi anh. Hơi thở được truyền vào miệng, cuối cùng mang lại sự sống cho lá phổi đã tuyệt vọng.
Dù không thể nhìn rõ, anh vẫn nhận ra bóng dáng ấy. Mái tóc bạch kim và chiếc váy đỏ bồng bềnh theo dòng nước.
Theo bản năng, anh hé miệng định nói gì đó nhưng Eleven đặt một ngón tay lên môi anh, ôm chặt lấy anh.
“Bám chắc vào. Đừng buông ra.” Giọng cô vang lên rõ ràng trong làn nước.
Anh siết chặt tay bám vào cánh tay và bờ vai cô, để cô dẫn ra khỏi hang đá bất chấp dòng nước chảy xiết. Khi nhìn lại, anh thấy chiếc váy đỏ đã biến thành đuôi cá mạnh mẽ, quẫy nước, kéo họ bơi về phía trước.
Trước khi kịp ngạt thở thêm lần nữa, đầu anh đã bất ngờ trồi lên khỏi mặt biển. Mắt, cổ họng và lồng ngực anh đều đau rát. Móng tay anh chảy máu vì đã cào vào đá.
Ho dữ dội, Theo tham lam hít những ngụm không khí lớn đầy phổi.

“Vẫn liều lĩnh như mọi khi nhỉ”, Eleven nói với anh.
“Haaah… Aah… Xin lỗi…”
Theo thở hổn hển rồi tựa người lên vai Eleven. Ánh mắt anh rơi xuống dải băng buộc ở cổ tay trái. Dù rất mừng vì Eleven đã tìm được mình, nhưng chỉ cần nghĩ đến chuyện nếu khi nãy anh cạn hơi và kiệt sức thật sự thì điều gì đã xảy ra, toàn thân anh lại run lên.
“Tôi có bảo hiểm nên cứ nghĩ sẽ ổn mà…”, anh lẩm bẩm.
“Đó là để chuẩn bị cho những tình huống bất ngờ, chứ không phải để khuyến khích cậu làm chuyện dại dột.”, Eleven siết chặt anh vào lòng.
Theo mở to mắt vì hành động bất ngờ ấy.
“Eleven, sao vậy?”
“Tôi đang xác nhận rằng anh vẫn còn sống.”
Không hiểu hết ý nghĩa câu nói, Theo khẽ thở ra khi nhớ lại lần anh đã ôm chầm lấy cô một cách vô thức hồi mùa xuân, khi cô trở về từ lò đốt. Khi đó cô không hiểu vì sao người ta lại ôm nhau, và anh đã giải thích cho cô. Một cảm xúc mà anh vẫn chưa tìm ra tên gọi trỗi dậy trong lồng ngực, và Theo vòng tay ôm cô chặt hơn.
“Tôi còn sống. Nhờ có cô.”
“Rất tốt. Nhưng tôi thấy anh bị thương và nhiệt độ cơ thể đang giảm. Ta sẽ trở lại đất liền.”
Cô nhẹ nhàng buông ra, và anh lập tức cảm nhận được sức nặng của cơ thể khi bị chìm xuống nước đến tận đầu. Eleven giữ anh thẳng người khi họ bắt đầu bơi trở về.
Anh ngước nhìn lên bầu trời. Mặt trời đang lặn, nhuộm bầu trời bằng những sắc hoàng hôn trầm ấm.
“Không thể tin được là tôi không biết bơi”, anh thở dài nói.
“Hiếm có ai có thể bơi khi đang mặc quần áo ướt sũng và kiệt sức như vậy”, cô đáp tỉnh bơ.
“Ừ thì… cũng đúng… Mà đúng lúc vừa tóm được Camicia thì tôi lại ra nông nỗi này. Không biết chuyện gì đã xảy ra nếu cô không đến cứu. Đúng là thảm hại.”
Eleven từ từ buông anh ra và kéo tay anh. Từ lúc nào họ đã bơi vào vùng nước đủ nông để anh đặt chân xuống đáy biển. Anh nhìn thấy những mỏm đá dọc theo bờ biển lởm chởm.
Sau khi dìu anh lên một bãi cát nhỏ, cô ngước nhìn anh. Lúc này anh không còn cần cô đỡ nữa, vậy mà cả hai vẫn nắm tay nhau, lặng lẽ nhìn nhau. Ở khoảng cách gần như khi họ từng nhảy điệu vũ trong đại sảnh hôm nào, anh nhìn sâu vào đôi mắt xám của cô.
“Giống như tôi đã nói trước đây”, cô khẽ nói, mái tóc ướt lấp lánh dưới ánh hoàng hôn.
“Không có gì tôi muốn hơn là được hữu ích cho anh.”
“Kể cả chuyện thế này sao?”
“Bất cứ chuyện gì.”
Trong mắt anh, cô như khẽ mỉm cười khi nhắc lại câu nói cũ ấy.
Theo vừa định cất lời thì tiếng mô tô nước vang lên cắt ngang.
Tobias cuối cùng cũng cập bờ được, dang rộng tay và ôm chầm lấy cả Theo lẫn Eleven.
“Haizz, tạ ơn trời phật! Hai người vẫn an toàn! Tim tôi sắp ngừng đập vì chuyện này rồi!”
“Ái, ái, ái!”, Theo nhăn mặt.
“Cái tên ngốc nào lại dồn hết sức của bộ phận dung hợp (tay giả của Tobias) vào cú ôm thế này chứ?! Xin lỗi vì đã làm anh lo!”
“Ha-ha-ha! Xin lỗi nhé. Cảm ơn cô luôn, Eleven.”
“Vâng. Không có gì.”
Tobias siết họ chặt thêm một lúc rồi mới chịu buông ra.
“Mà này.”, Gương mặt anh trở nên nghiêm túc.
“Camicia đâu? Xem ra hắn cũng bị cuốn đi rồi.”
“Không rõ. Có thể Amalgam đã giữ được hắn, nhưng sống chết ra sao thì…”
Theo tự nhiên nhìn ra biển. Giữa những tảng đá lớn, anh thấy chiếc Havmonet đang nghiêng một bên. Nhìn vị trí boong tàu, có vẻ nó sẽ không chìm hẳn. Một vài thuyền cứu sinh lềnh bềnh trên mặt nước, và anh thấy bóng lũ chim lớn bay lượn phía trên con tàu.
“Eleven, tín hiệu Amalgam thế nào?”, Theo hỏi.
“Ít nhất con tàu trông có vẻ an toàn.”
“Có vẻ nó đã giữ Camicia và trở lại đáy biển. Mức độ nguy hiểm đã giảm đáng kể. Tôi cũng đã xác định được vị trí lõi, tôi sẽ xuống đó ngay.”
“Cô không định đợi lực lượng chi viện từ tàu khu trục à?”, anh hỏi.
“Không.”, Cô lắc đầu.
“Hành vi tấn công của Amalgam chỉ nhằm bảo vệ Camicia và loại bỏ nhân chứng cùng kẻ thù bên ngoài. Giờ những vấn đề đó đã được giải quyết. Tín hiệu của tôi giờ sẽ đến được với chúng. Hai người hãy giữ ấm ở đây và nghĩ cách giải trình chuyện Tobias làm mất súng đi.”
“Á!”, Tobias kêu lên.
Dù là ngoài ý muốn, nhưng việc để mất súng do cục cấp phát đồng nghĩa anh phải nộp bản tường trình. Tobias xị mặt, còn Theo cười gượng khi Eleven quay gót, bước xuống biển.
Vạt váy của cô nổi lềnh bềnh trên mặt nước, và như thể không hề có lực cản, mái tóc bạch kim của cô lặng lẽ biến mất giữa làn sóng. Chiếc vây đuôi đỏ rực lấp lánh trong ánh hoàng hôn rồi cũng chìm theo.
“Thôi thì, tôi sẽ ra xem còn gì trên chiếc mô tô nước không”, Tobias thở dài nói.
“Mmm. Anh làm đi. Tôi sẽ liên lạc với Emma.”, Theo nhìn Tobias rảo bước trên bãi cát, rồi anh chạm vào bộ đàm, mắt vẫn dõi ra biển khơi.
*****
Eleven chạm đáy biển, nơi ánh sáng mặt trời chỉ còn le lói chiếu xuống, rồi dừng lại một lúc.
Những bản sao màu trắng mờ trôi lững lờ như sứa. Tất cả bọn chúng đã đạt đến giới hạn vận hành và chỉ đang chờ cơ thể vật lý mục rữa đi. Khi cô bơi xuyên qua đám repro, chúng lặng lẽ bám theo sau. Trong ánh sáng lờ mờ của những lõi đỏ đang phát sáng dưới đáy biển, những đàn cá bơi qua, dường như chẳng bận tâm gì.
Cuối cùng, cô ghé mắt nhìn ra sau một tảng đá khổng lồ phủ đầy san hô và vỏ sò. Lõi của Amalgam đang nằm yên lặng giữa đá và cát. Bề mặt nó bị phủ đầy san hô chết, những chiếc gai đâm sâu xuống đáy để không bị dòng chảy cuốn đi. Nó không còn sức để chống trả nữa. Nhưng nó vẫn phát ra một tín hiệu yếu ớt.
[TỪ CHỐI] [TỪ CHỐI] [TỪ CHỐI]
Eleven gạt những bản sao đang tụ quanh lõi Amalgam và chạm tay lên bề mặt nó. Ẩn sau đó, được che bởi lõi và tảng đá, là một khối trắng mờ như kén. Bên trong, Camicia nhắm nghiền mắt, hai tay bị trói chặt. Có vẻ hắn vẫn thở và còn sống.
“…Ta đang nắm quyền chỉ huy. Nghe ta, sợ ta, quỳ gối trước ta. Phục tùng ta.”
[CHẤP NHẬN]
Tín hiệu đơn giản này đáp lại mệnh lệnh điều khiển của cô. Vì chỉ huy Camicia đã bất tỉnh, quyền chỉ huy chuyển cho cá thể có cấp bậc cao nhất. Quy trình này vẫn hoạt động bình thường. Sau khi kiểm tra tình trạng lõi, cô thấy mặc dù công suất đã giảm do quy trình bị ghi đè, nhưng ngoài ra nó không bị hư hại gì. Chỉ cần lõi còn hoạt động, nó sẽ cố gắng thực hiện mệnh lệnh của Camicia.
Nhưng Eleven tập trung vào lượng ký ức còn lại trong lõi. Nó đã lưu trữ lượng ký ức gấp bốn lần mức bình thường của một Amalgam chiến đấu.
“Xem ký ức.” cô ra lệnh.
[CHẤP NHẬN] [TRIỂN KHAI]
Những ký ức truyền từ lõi Amalgam. Dưới lệnh của chỉ huy, nó tiến ra tiền tuyến, phát hiện một đội quân đồng minh lẽ ra không nên xuất hiện ở đó và cố gắng bảo vệ họ, nhưng cơ thể vật lý bị phá hủy. Ngay sau đó, Camicia mang lõi của nó đi. Theo giao thức lệnh, quyền chỉ huy chuyển sang người sống sót duy nhất là Camicia.
Những ký ức tiếp tục, cho thấy Camicia muốn giữ lõi ở trạng thái lộ thiên còn Amalgam thì chống lại điều đó, cố định hình lại theo chức năng cơ bản của mình. Nó đã ghi lại tất cả từ lúc quyền chỉ huy chuyển sang một thường dân.
Nhưng trong đó lại lẫn cả những ký ức mà Amalgam rõ ràng chưa từng trải qua. Khao khát giành lại thứ đã mất và niềm vui khi mong ước ấy được thực hiện được ghi lại một cách rời rạc. Đây là ký ức mà các Amalgam trung gian thu được khi chúng hấp thụ người dùng.
Thông qua việc hấp thụ, một Amalgam sẽ phân tích toàn bộ diện mạo, cách sống và chức năng của mục tiêu, rồi sử dụng chúng để bắt chước. Việc thừa hưởng ký ức từ con mồi là một chức năng thiết yếu, nhưng thông thường, những ký ức này không được lưu trữ quá lâu. Dù ký ức ấy gắn liền với cảm xúc con người, chúng cũng không ảnh hưởng gì đến Amalgam.
Tuy nhiên, Amalgam này đã tiếp tục lưu giữ “cô đơn”, “mất mát” và “hy vọng” của những chủ cũ được các bản sao tái tạo. Cuối cùng, nó thậm chí còn sao chép cả cách tư duy ấy và tự ngộ nhận rằng nếu mất Camicia, nó cũng sẽ cô đơn vĩnh viễn dưới đáy biển.
“…Ngươi đang ‘cảm thấy buồn’ sao?”
[ĐỒNG Ý]
“Bằng cách ghi nhớ cảm xúc của các chủ cũ dành cho bản sao, ngươi hiểu lầm rằng cũng có ai đó thật sự mong muốn ngươi. Sự thật là ngươi chỉ có một mình dưới đáy biển, không ai có thể đến đây. Các bản sao đã được thu hồi và kết thúc. Khi thực tại và nhận thức của ngươi lệch nhau, ngươi đã thả bản sao ra ngoài, và ngươi giả định rằng xóa bỏ ‘nỗi buồn’ của con người cũng sẽ xóa được ‘nỗi buồn’ của chính ngươi.”
[ĐỒNG Ý]
“Nhưng ngươi đã thất bại. Vì vậy ngươi mới bảo vệ Camicia quá mức, kẻ đang nắm quyền chỉ huy. Mất hắn đồng nghĩa với thất bại trong việc thực hiện mệnh lệnh, và đồng thời sự tồn tại của ngươi cũng bị đe dọa.”
[ĐỒNG Ý]
“‘Cô đơn’ chỉ là ảo ảnh. Ngươi chỉ đang bắt chước tư duy vì đã hấp thụ quá nhiều ký ức cụ thể. Chúng ta, Amalgam, không cảm nhận gì cả. Sinh vật sống thay đổi hành vi vì ‘lo lắng’ hay ‘sợ hãi’, còn vũ khí thì không. Hãy tự điều chỉnh ngay.”
Không có phản hồi. Eleven gạt những bản sao đang cố che tầm nhìn rồi tiến sát lõi Amalgam. Đám bản sao bồng bềnh rồi lặng lẽ bám quanh vây đuôi của Eleven.
“‘Cô đơn’ đã khiến ngươi thực hiện mệnh lệnh, và ‘cô đơn’ cũng đã thay đổi ngươi.”
[…] […] [ĐỒNG Ý]
“Nhưng rõ ràng ngươi hiểu hành động của mình là bất thường. Vì vậy ngươi đã ghi lại mọi thứ. Để báo cáo mà không bỏ sót bất kỳ chi tiết nào.”
Một Amalgam diễn giải và thực hiện mệnh lệnh một cách rộng rãi theo mô hình tư duy, trong khi các chức năng vẫn hoạt động bình thường. Eleven không thể đoán được nó sẽ bị xử lý thế nào.
Cô chạm tay lên lõi. Vì nó được chế tạo từ khoáng chất quý hiếm, tốt nhất là có thể tái sử dụng. Và với lỗi hệ thống đã xảy ra, cá thể này đã hành động để hữu ích với con người. Bỏ qua kết quả mà nó gây ra, nó vẫn giữ được nguyên tắc quan trọng nhất của một Amalgam.
“…Ngốc nghếch và kém hiệu quả là việc của con người, không phải việc của Amalgam. Nhưng ta không có vị trí để phán xét ngươi. Thêm vào đó, có khả năng ngươi vẫn có thể chịu đựng được việc tiếp tục sử dụng.”
[?] [?] [?]
“Ngươi vẫn còn hữu ích cho con người không?”
Sau khi tín hiệu câu hỏi được gửi đi, Amalgam phát ra một tín hiệu mạnh đến mức gần như vươn tới tận bầu trời.
Trên boong tàu khu trục Calwell, Emma vẫn tiếp tục nhìn ra biển. Hải quân đã điều một con tàu dự phòng, và tất cả hành khách trên Havmonet đều đã được cứu. Một khi các Amalgam im lặng, con tàu Havmonet cũng ngừng nghiêng và cố gắng nổi được trên mặt nước.
Chuyến du ngoạn bị đình chỉ, và tất cả mọi người cuối cùng đều được đưa trở lại cảng ở Zabahlio. Những hành khách đã được chuyển sang tàu hải quân và tàu cứu hộ Takara đã bắt đầu quay về cảng, nhưng Emma thì giữ con tàu khu trục Calwell ở lại cho đến khi Theo và những người khác trở về. Cô cứ nhìn ra biển, mong họ xuất hiện bất cứ lúc nào, rồi cô thấy một chiếc mô tô nước đang từ từ tiến lại gần, khiến cô trợn tròn mắt.
Chiếc mô tô nước như phải dốc hết sức mới có thể lết về phía trước, chống lại dòng thủy triều, và từ phía trước, Tobias đang vẫy tay. Theo ngồi ở ghế sau với vẻ mặt không mấy dễ chịu, trên đùi anh là một cái kén to bằng người. Và Eleven thì đứng chồm bên cạnh, hai chân đặt trên khoảng trống nhỏ xíu, tựa người lên vai Theo. Emma chưa từng thấy ai chở ba người trên mô tô nước bao giờ, và cô chợt nhận ra miệng mình đang há hốc.
“Emma, bọn tôi về rồi đây!”, Tobias gọi lớn.
“Về rồi á? Ba người trên một chiếc mô tô nước?! Đùa nhau đấy à?!”, cô hét lên.
“Mà thôi, mừng là mấy người bình an vô sự! Thủy thủ! Có thể kéo ba người đó lên không?”
Cô cảm ơn người thủy thủ đang vội vã làm việc đó rồi dùng cổ áo lau mắt. Khi mọi lo lắng qua đi, căng thẳng và cả tuyến lệ của cô cũng cùng lúc buông lỏng.
Cả ba người đều ướt sũng, quần áo thì rách tả tơi. Dù họ đã liên lạc qua vô tuyến, nhưng khi tận mắt thấy họ, cô vẫn thở phào nhẹ nhõm.
Eleven đột nhiên quay lại và giơ một tay lên. Tưởng cô ấy đang vẫy tay chào ai đó, Emma cũng nhìn theo hướng đó, và đúng lúc ấy, mặt biển bắt đầu sủi bọt, sủi bọt.
Một cột nước khổng lồ bắn tung lên, lớn đến mức Emma có cảm giác như một ngọn thác đang quay ngược chiều, rồi một con cá voi trắng toát phóng vút khỏi mặt biển với lực mạnh khủng khiếp.
Con cá voi lao vút lên bầu trời chạng vạng. Khi khối thân đồ sộ của nó rơi trở lại nước, cú va đập khiến cả tàu khu trục lẫn con Havmonet đều chao đảo. Tất cả những gì Emma có thể làm là bám chặt lan can rồi bật cười.
Vài con mắt đỏ chớp chớp trên đầu con cá voi trắng. Khi Eleven vẫy tay, con cá voi lặn xuống rồi bắt đầu bơi, chở con Havmonet trên lưng.
Emma chạy ngay đến chỗ Theo và nhóm của anh sau khi họ được thủy thủ trên tàu khu trục cứu lên boong.
Theo xé toạc cái kén khổng lồ, để lộ Camicia đang mềm nhũn rơi ra.
“Vậy là xong chuyện rồi hả?”, Emma hỏi.
“Mmm. Xong rồi.”, Theo gật đầu.
Cả nhóm nhìn nhau, im lặng. Tàu khu trục Calwell bắt đầu chuyển động, và con cá voi bơi theo sau, chở Havmonet trên lưng nó. Cuộc hỗn loạn bắt đầu từ vụ lừa đảo nhận con nuôi cuối cùng cũng đã kết thúc.
*****
Ở vùng ngoại ô Zabahlio có một hồ nước lớn được bao quanh bởi rừng cây. Và bên một bờ hồ ấy chính là nhà của gia đình Tobias. Bố mẹ anh vốn sống gần xưởng đóng tàu ở khu cảng, nhưng khi ngôi nhà bị thiêu rụi trong một cuộc không kích vào Zabahlio, họ đã chuyển đến một nơi xa biển hơn.
Gần cái hồ tĩnh lặng ấy, giọng Emma phấn khích vang lên.
“Được rồi! Chúng ta đi lấy lại mùa hè thôi!”
“Mmm. Đi nào”, Eleven vui vẻ đồng ý.
“Sao hai người không mặc đồ bơi hả? Tôi đã bảo nhớ mang theo rồi mà.”
Emma chống nạnh, nhướng mày nhìn Theo và Tobias.
Tobias cười gượng, còn Theo thì cau có.
“Thôi khỏi”, Tobias trả lời. “Tôi cần chút yên tĩnh.”
“Tôi bơi đủ cho cả đời rồi. Tôi hết muốn dính nước”, Theo nói.
“Thật không đấy? Vậy thì Eleven với tôi sẽ bơi thật đã! Hai anh cứ ngồi ngoan mà ngắm đi nhé!”
Trái ngược với Emma đang đeo phao bơi, háo hức sẵn sàng nhảy xuống nước, Eleven chỉ nhìn qua lại giữa Theo và Emma. Dù kiểu đồ bơi khác nhau, Emma mặc bikini, còn Eleven thì mặc đồ bơi liền mảnh, nhưng kiểu tóc của cả hai lại giống hệt. Đây rõ ràng là quyết định của Emma, nhưng Theo cũng chẳng buồn nói gì, coi như đó là dấu hiệu tình bạn mới chớm nở giữa hai người.
Tiếng cười của Emma vang xa dần, rồi tiếng hét “Lạnh quá!” vang lên cùng tiếng nước bắn tung tóe. Eleven bình tĩnh nói cho cô biết nhiệt độ không khí và nước trung bình ở khu vực này.
Mặc kệ mọi thứ, Theo ngả người ra ghế dài. Anh hít một hơi sâu bầu không khí trong lành của khu rừng rồi nhắm mắt lại.
Sau khi điều tra vụ Jikunokagu kết thúc, họ đã thu xếp nốt mọi chuyện, nộp báo cáo và được cho nghỉ vài ngày. Dù không ai bị thương nặng rõ rệt, nhưng Theo suýt chết đuối, Tobias thì bị chấn thương toàn thân, còn Emma thì dùng phép quá sức đến kiệt quệ, nên lệnh được đưa ra là tất cả phải nghỉ ngơi, tạm thời tránh xa các vụ điều tra.
Nghe vậy, bố mẹ Tobias đã mời cả nhóm đến nghỉ dưỡng. Tobias thì có vẻ chẳng mặn mà gì, nhưng Emma thì hào hứng ra mặt, còn Theo thì nhận ra nếu Tobias bỏ lỡ cơ hội này, anh ta sẽ càng ngày càng xa cách gia đình, thế là anh đành phải đẩy Tobias một cú.
Khi liếc sang bên cạnh, Theo thấy Tobias cũng đang nằm dài trên ghế, mắt dõi theo Emma và Eleven. Anh vội lảng ánh nhìn khỏi gương mặt yên bình ấy rồi khẽ nói:
“Ba mẹ anh vui là tốt rồi.”
*****
“Ừ”, Tobias đáp khẽ. “Cậu nói đúng khi bảo tới đây. Lâu lắm rồi tôi mới thấy họ cười như vậy.”
Theo ngồi thẳng dậy.
“Anh vẫn còn bận tâm chuyện đó à? Việc ba mẹ anh chuyển đi đâu phải lỗi của anh.”
Tobias cười, trông có vẻ không thoải mái.
“Ý tôi là, một người đóng tàu như ba tôi mà lại phải rời xa biển… Thật ra… chắc tôi vẫn bận lòng đấy.”
“Tôi cũng hiểu mà. Ai mà muốn cứ phải nhìn thấy biển khi nó đã nuốt mất cánh tay của con mình chứ.”
Theo đưa mắt nhìn ra mặt hồ và khu rừng trải dài trước mắt. Anh thấy Emma đang chỉ tay về phía mấy con chim nước đang đậu xa xa, còn Eleven thì có vẻ đang nói gì đó. Một khung cảnh thật yên bình.
Tobias đã che chắn cho ba mẹ và bị chôn vùi dưới đống đổ nát trong cuộc không kích Zabahlio, ngay tại xưởng đóng tàu nơi ba anh làm việc. Những mảnh vỡ, máy móc hạng nặng và vật liệu đổ xuống đè lên tay trái anh, khiến anh không thể cử động. Chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi Tobias bị kéo xuống biển và chìm nghỉm, mà lại không có đủ không gian để mang máy móc vào cứu. Không còn cách nào khác, họ buộc phải cắt bỏ cánh tay anh ngay tại chỗ để cứu mạng. Cánh tay trái của anh đã chìm xuống biển cùng với xưởng tàu. Kể từ đó, bầu không khí trong gia đình Hillmyna lúc nào cũng căng thẳng.
Theo vẫn luôn mang ơn Tobias và bố mẹ anh. Bất cứ cơ hội nào có thể giúp họ gần gũi nhau hơn, anh đều muốn tận dụng.
“Cứ tranh thủ về thăm họ khi có thể đi”, Theo nói.
“Chẳng ai biết trước chuyện gì sẽ xảy ra.”
“Ừ. Vụ lần này cũng đủ cho tôi hiểu điều đó rồi.”, Tobias cười rồi im lặng. Đáng ra bây giờ anh vẫn nên nằm yên tĩnh nghỉ ngơi trên giường mới phải.
Theo không nói gì thêm mà chỉ nhắm mắt, tận hưởng sự yên tĩnh. Anh chẳng biết mình đã ngồi như thế bao lâu. Khi mở mắt ra, anh thấy một chiếc khăn tắm đã được phủ lên bụng mình, còn Eleven thì đang ngồi trên ghế dài bên cạnh, quấn khăn quanh vai.
“Cô bơi xong rồi à?”, anh hỏi.
“Đây chỉ là nghỉ giữa chừng. Ba mẹ Tobias mang đồ uống ra cho chúng ta.”, Eleven chỉ tay về bàn bên cạnh.
Anh nhìn theo thì thấy ly cà phê đá lách cách tiếng đá viên. Eleven thì được pha trà đá trang trí trái cây mùa hè. Anh nghe tiếng cười và nhìn lại. Tobias, bố mẹ anh và Emma đang trò chuyện vui vẻ trên sân hiên cạnh hồ, mỗi người cầm một ly đồ uống.
Theo mỉm cười.
“Con người đúng là hợp với đất liền hơn nước nhỉ?”
“Ai suýt chết đuối cũng nói vậy”, cô đáp.
Một cơn gió nhẹ lướt qua. Theo nhấp một ngụm cà phê đá rồi dựa người ra ghế.
“Việc nghiên cứu về Amalgam sao rồi?”, anh hỏi.
“Tôi vừa nhận báo cáo là tiến triển tốt”, Eleven nói.
“Cần phải khởi động lại quy trình và thực hành cứu người, nhưng nó đã qua thử nghiệm cần thiết và dự kiến sẽ được giao cho Hải quân Bảo an. Việc nó có thể điều khiển từ xa số lượng lớn các bản sao, bảo vệ sinh mạng con người ngoài biển và thực thi mệnh lệnh đã được đánh giá cao, nên đã quyết định tái sử dụng.”
“Vậy à…? Cuối cùng thì nó vô tội thật. Nó chỉ làm theo lệnh của một kẻ khốn kiếp mà thôi.”
“Đúng vậy. Luật pháp chỉ xét xử con người”, Eleven nói khẽ.
Cô như đang lắng nghe gió, và khuôn mặt nghiêng nghiêng của cô có vẻ kỳ lạ, như thể thật sự chẳng nghe gì cả.
“Một con dao không chọn người cầm, nó chỉ thể hiện khả năng cắt của mình. Amalgam cũng thế. Bất kể con người đó là ai, chúng tôi chỉ phục tùng và thực hiện mệnh lệnh của chỉ huy. Thiện hay ác không thuộc về chúng tôi. Đó là chuyện của loài người, không phải của chúng tôi. Chúng tôi không có cơ sở để phán xét điều đó.”
“Vậy chỉ cần họ là chỉ huy của các cô thì các cô sẽ phục tùng? Kể cả kẻ như Camicia sao?”
“Amalgam chỉ có quy trình xác định quyền chỉ huy, và chúng tôi không chất vấn nhân tính. Dù mệnh lệnh đến từ một nhà cai trị khai sáng hay bạo chúa tàn độc, nếu chúng tôi phải tự xét duyệt kỹ lưỡng trước khi hành động thì đã quá muộn. Chúng tôi là vũ khí.”
Eleven nói hoàn toàn đúng, nhưng Theo vẫn không thể dễ dàng chấp nhận được.
“Tôi hiểu mấy Amalgam chiến đấu như Roremclad”, anh thở dài.
“Jim Kent thì đúng là kẻ tệ hại, nhưng ít ra ông ta có tầm nhìn. Còn Camicia thì chỉ là một tên tham lam. Chẳng có lý tưởng, chẳng có gì hết. Một kẻ hèn hạ vô danh. Vậy mà vẫn phục tùng hắn… Tôi không hiểu nổi…”
“Trên thực tế, Amalgam rất khó phân biệt giữa con người.”
Theo ngồi bật dậy trước thông tin này. Eleven cũng quay sang anh.
“C-cô không phân biệt được bọn tôi à?”, anh hỏi.
“Đó là vấn đề về năng lực xử lý thông tin. Khác với Hound như tôi, mọi con người đều giống nhau với Amalgam. Tất cả đều ngu ngốc, phi lý, yếu ớt và thấp kém như nhau.”
Đánh giá này thật cay nghiệt. Theo sững người, nhưng Eleven thì vẫn bình thản.
“Tuy vậy, chính vì thế, với Amalgam, con người là thứ cần được bảo vệ.”
“Kể cả khi ngu ngốc và thấp kém?”, anh nói yếu ớt.
“Nếu không có con người, Amalgam sẽ không tồn tại. Mọi Amalgam đều nhận thức cơ bản rằng con người cần được bảo vệ. Tuy nhiên, để sử dụng trong chiến đấu, cần có định nghĩa từ chỉ huy về việc thế nào là con người.”
“Cô có cách xác định quân địch không?”
“Chúng tôi chỉ đăng ký các nước thù địch theo thẻ nhận diện được các nước áp dụng. Không phải Amalgam tự chia con người ra rồi quyết định ai giết ai không. Việc đó do chỉ huy quyết định.”
Theo ngả người ra ghế, cảm thấy kiệt sức chỉ vì nghe chuyện này.
Gino Camicia, hay còn gọi là Giorgio Santoro, đã thú nhận trước Cục Điều tra Hình sự mọi chuyện, từ việc lén vào vùng cấm truyền thông, để lộ đội điều tra vào tình thế nguy hiểm, đánh cắp lõi của Amalgam bị tiêu diệt mà hắn tình cờ tìm được, cho đến vụ phóng hỏa giết Dr. Nilholm, bán vật phẩm bị nguyền rủa ăn trộm từ chiến trường, lừa đảo qua Jikunokagu và buôn bán Amalgam. Hắn sẽ phải sống nốt phần đời còn lại sau song sắt.
Jikunokagu bị thanh trừng và giải thể vĩnh viễn bởi Lữ đoàn Cứu tế Banthobuk. Những kẻ phạm tội khác cũng bị bắt, và các tổ chức con mà trụ sở không kiểm soát hết cũng bị điều tra đột xuất. Nhờ vậy, nhiều vấn đề khác cũng được phanh phui.
Những người sử dụng proxy cũng bị phát hiện, và các đợt thay thế proxy bằng bản sao tổng hợp đã được thực hiện dưới sự giám sát của phòng nghiên cứu. Những người đã mất thì không thể quay lại, nhưng vẫn còn những người có thể cứu được. Chỉ thế thôi cũng đã là may mắn rồi.
Nhờ vụ này khép lại, Theo cũng nhận ra sự nguy hiểm thực sự của Amalgam. Anh rùng mình. Anh hiểu rằng để duy trì tuyến đầu chiến đấu, dây chuyền mệnh lệnh phải đơn giản, và cần quy trình khi chỉ huy vắng mặt. Nhưng khi Amalgam bị biến thành công cụ kiếm tiền, nhiều người đã chết, và chính tính năng lẫn cấu trúc của chúng lại trở nên đáng sợ.
“Đáng để suy ngẫm đấy”, anh nói với Eleven. “Tôi cũng sẽ phải cẩn thận với mệnh lệnh của mình.”
“Vâng. Ngài cũng là một sinh vật ngu ngốc, liều lĩnh, phi lý và mong manh”, Eleven đáp.
“Này, đúng thì đúng, nhưng nghe thế cũng đau lòng lắm đấy?”, Theo cau mày nhìn cô.
Eleven vẫn không biểu cảm, nhưng cô quay sang nói,
“Nếu anh chỉ định tính cách, tôi sẽ nói điều đó theo phong cách Alouette.”
“Vậy chỉ càng nghe khó chịu một cách lịch sự hơn thôi”, anh lầm bầm.
“Tôi cho rằng tôi đã đóng vai bạn gái rất hoàn hảo, anh có phàn nàn gì sao?”
“Không, à thì, diễn xuất cũng ổn, nhưng…”, Một ý nghĩ lóe lên.
“Khoan, vụ hôn lúc cô cứu tôi dưới biển cũng tính là vai bạn gái hả?”
“Cấp cứu nhân tạo thường là miệng kề miệng.”
“Đúng là vậy, nhưng…”
“Mặc dù anh có thể gọi việc một con chó liếm miệng ngài là ‘hôn’.”
“Khoan đã— Gì cơ? Thế thì… Tôi— Không biết nữa?”, Anh nghiêng đầu bối rối.
Eleven vốn coi mình là vũ khí, nên kết luận như vậy cũng dễ hiểu. Có lẽ đây cũng là hậu quả của việc không chỉ định tính cách? Trong lúc anh đang ngẫm nghĩ, Eleven khúc khích cười trước mặt anh. Bất ngờ, anh ngẩng mặt lên, thấy cô nhìn anh vô tội.
“Cô vừa cười đấy”, anh nói như buộc tội.
“Tôi không cười.”
“Rõ ràng là cô cười mà.”
“Tôi không hề cười”, cô khăng khăng rồi dúi miếng cam trang trí ly nước vào miệng anh.
Anh chẳng còn cách nào khác đành nhai cam rồi nuốt xuống.
“Cách đối xử gì vậy với chủ nhân của cô chứ…?”
“Vì ngài không sử dụng chó săn của mình cho đúng.”
“Tính cách gì mà… Cô rõ ràng chẳng cần tôi gán cho tính cách nào hết”, anh lầm bầm, đưa ly lên môi. Tiếng đá va nhau nghe thật mát tai.
“Nhưng mà, thật ra thế này mới đúng là cộng sự của tôi. Cô cứ thỉnh thoảng mắng mỏ hay châm chọc tôi thế này còn hơn là chỉ biết gật đầu.”
“Thật vậy sao?”, cô hỏi.
“Thử nghĩ mà xem. Nếu tôi áp đặt lý tưởng gì đó lên cô, thì chẳng khác nào tôi có thêm một kẻ ‘ngu ngốc và liều lĩnh’ y như tôi, rồi Tobias sẽ lo lắng đến thủng dạ dày mất.”
“Đó quả là tình huống đáng lo ngại.”
Cả hai nhìn ra hồ khi gió nhẹ thổi qua. Ít nhất thì lúc này cũng thật yên bình. Theo chưa bao giờ ngờ rằng sẽ có ngày mình có thể thư thả ngồi cạnh Eleven như thế này.
“Thật lạ khi anh không cần một người mà mình thích. Có lẽ cũng có chuyện vậy”, Eleven lẩm bẩm.
Theo bật cười.
“Bạn bè thì khác, bọn tôi là đồng nghiệp. Tôi không quan tâm tính cách, miễn là làm việc được với nhau. Nếu cô thái quá thì tôi mới có vấn đề.”
“Anh cũng nên coi trọng mạng sống của mình hơn một chút thì tốt hơn.”
“Đối với tôi, khi bắt tội phạm thì mạng sống của tôi chỉ là thứ yếu”, Theo đáp như phản xạ.
Eleven nhìn anh chằm chằm.
“Nhưng để sống thì nỗi sợ chết là cần thiết.”
“Tôi sợ người vô tội chết hơn sợ mình chết.”
Cô nhìn anh một lúc, rồi khẽ nói,
“Nếu anh đã nắm rõ nguyên tắc hành động của mình, tôi đề xuất rằng nên tùy chỉnh, chỉ định một tính cách phù hợp.”
“Có lẽ vậy thật. Nhưng như bây giờ tôi vẫn tin được cô, nên…”, Anh nhún vai.
Dù đã đọc hướng dẫn, đã cùng nhau phá án, anh vẫn chưa biết cách tốt nhất để ‘xử lý’ một Hound. Có lẽ anh thật sự nên chỉ định tính cách và hành vi phù hợp cho Cục Điều tra Hình sự.
Nhưng thật lạ, anh lại thích cảm giác xa gần này giữa mình và Eleven. Dĩ nhiên, cũng vì khả năng thích ứng của cô, nhưng anh cảm thấy mọi thứ sẽ khác đi nếu anh can thiệp quá sâu.
“Cứ để nguyên cũng được”, Theo nói.
“Trong trường hợp đó, khi xảy ra sự cố khẩn cấp, tôi có thể không đủ năng lực cần thiết.”
“Cũng không sao. Đó là lý do tôi mới cần cộng sự.”, Anh nâng ly. “Vậy nhé, cứ tiếp tục như vậy đi.”
“Anh thật hết thuốc chữa”, Eleven đáp, nhưng cô trông bình thản khi nâng ly lên. Tiếng ly chạm nhau lan nhẹ bên hồ. Đôi mắt xám của cô bắt nắng hè, lấp lánh rực rỡ.
Theo nghe thấy tiếng cười của Emma và Tobias vọng lại từ xa, gương mặt anh cũng giãn ra thành một nụ cười. Quả thật là một buổi chiều bình yên.