Vol 3 – Chương 4: Trái tim của Vua Thần cao quý như ánh dương
Fate/Prototype: Fragments of Sky Silver Vol 3 – Beautiful Mind – Tâm hồn cao đẹp
Tác giả: Hikaru Sakurai
Minh họa: Nakahara
Chương 4: Trái tim của Vua Thần cao quý như ánh dương
Một ngày nào đó trong tháng Hai, năm 1991.
Tại một xưởng phép thuật quy mô lớn, được bảo vệ bởi vô số tầng kết giới, nằm dưới dãy núi Okutama.
Đó là một xưởng phép như mê cung.
Một pháo đài “được bảo hộ” được xây dựng từ nỗ lực chung của hơn chục pháp sư, khiến việc xâm nhập trở nên vô cùng khó khăn, ngay cả với những Huyền Bí mạnh mẽ như một Anh Linh.
Ngay cả khi ai đó cố gắng phá vỡ các trường kết giới bằng ma thuật, một cái bẫy ma pháp sẽ tiêu diệt kẻ dại dột ấy ngay khi phá được một tầng. Về mặt vật lý, vô số ụ súng gắn trên trần và tường bên trong xưởng sẽ nghiền nát kẻ xâm nhập.
Kiên cố và bền vững.
Một pháo đài bất khả xâm phạm tận dụng không chỉ ma thuật, mà cả vũ khí và thiết bị điện tử.
Đó là một xưởng phép hiện thân cho chiến lược mà dòng tộc này chọn để tham chiến trong Cuộc Chiến Chén Thánh.
Dĩ nhiên, nó không thể so sánh với kỹ thuật thần bí được sử dụng trên “thánh địa” được kiến tạo bởi Caster đã hiện thân. Dù là sự biến đổi không gian thành một thế giới khác hay những cái bẫy hung hiểm như khoảng chân không hay sức nóng của lõi hành tinh, cũng không thể sánh với nó. Dù khó có thể phá hủy những trụ cột của Cuộc Chiến Chén Thánh là các Servant, thì về khả năng
ngăn chặn sự xâm nhập từ bên ngoài, nó không thua kém ai.
Dù là một đội quân người, một nhóm pháp sư hay một Anh Linh.
Tất cả đều nhằm bảo vệ tộc trưởng – người tham gia Cuộc Chiến Chén Thánh.
Hành lang tối tăm được xây dựng ở phần sâu nhất của xưởng phép, một xưởng phép được gia cố tối đa để bảo vệ Isemi Shizuri, tộc trưởng dòng tộc Isemi – một ông lão đeo mặt nạ, người khao khát sở hữu Chén Thánh, đang ngồi trên chiếc ghế như là “ngai vàng” của một vị vương già.
“Ta sẽ giành lấy Chén Thánh.”
Giọng nói của lão Shizuri vang vọng qua chiếc mặt nạ trong bóng tối. Trong đó là những cảm xúc dồn nén sâu sắc.
Phẫn nộ. Uất ức. Hay là một sự tự tôn được thức tỉnh?
Dòng tộc Isemi – từng phát triển rực rỡ nhờ đạt được sự “cộng sinh” phần nào với xã hội hiện đại – nay đã tụt hậu nghiêm trọng so với những gia tộc pháp sư khác.
Đặc biệt là so với gia tộc Reiroukan, được coi là gia tộc danh giá nhất không chỉ ở vùng Kanto mà còn cả Viễn Đông.
Trên thực tế, cái tên Isemi như một dòng dõi pháp sư đang trên bờ vực sụp đổ suốt những năm qua.
Khi Hiệp Hội Pháp Sư, có trụ sở tại Tháp Đồng Hồ xa xôi ở Anh quốc, ngày càng khinh thường những dòng máu trẻ, thì gia tộc duy nhất ở Viễn Đông được họ công nhận chính là Reiroukan.
Điều đó là không thể tha thứ được.
Bởi dòng tộc Isemi từng tự hào là gia tộc có lịch sử lâu đời bậc nhất.
Và họ đã để cho các dòng pháp sư phương Tây, chỉ mới tới vùng đất này vài thế kỷ trước, vượt mặt mình.
“…Hơn nữa, nếu Chén Thánh – vật ban điều ước vạn năng – rơi vào tay Reiroukan, thì cái tên Isemi của chúng ta sẽ biến mất khỏi mảnh đất này. Không thể tha thứ.
Tuyệt đối không thể tha thứ.”
Chiếc mặt nạ của ông run lên mạnh hơn theo từng lời nói.
Chiếc mặt nạ vô cảm ấy tượng trưng cho hiện trạng hiện tại của dòng tộc Isemi.
Đó là một Ma Thuật Cụ – dùng để bổ trợ các mạch ma pháp đã suy yếu do tích tụ huyết thống, đồng thời có chức năng thay thế ma lực hút từ người khác bằng ma lực của chính người đeo.
Một sáng tạo nguyên bản của dòng tộc Isemi, được tạo ra bằng cách kết hợp một phần pháp thuật phương Tây được du nhập vào Viễn Đông vài trăm năm trước với khoa học hiện đại.
Dưới sự điều hành của dòng tộc, các bệnh viện tổng hợp rải rác khắp Tokyo đã được dùng để hấp thụ sinh lực từ vô số bệnh nhân nội trú.
Và thậm chí cho đến hiện tại, họ vẫn tiếp tục tiêu thụ sinh lực ấy để duy trì hiện thân của Servant hùng mạnh mà họ đã triệu hồi thành công.
Ma lực có mối liên hệ trực tiếp với sinh mệnh.
Nếu cứ tiếp tục hút mãi, sẽ có vô số người chết.
Nhưng lão Shizuri không bận tâm.
Ông ta cảm thấy tiếc nuối vì bản thân chẳng còn quan tâm tới sinh mạng người vô tội, và rằng mình phải dùng tới sức mạnh của khoa học – thứ bị xem như điều cấm kỵ với pháp sư.
Thế nhưng, điều khiến ông lo lắng hơn chính là sự bất lực của bản thân – một kẻ không còn cách nào khác ngoài việc tiếp tục gánh vác dòng tộc bằng cách chạm vào điều cấm kỵ, bất chấp nỗi đau đớn của những người đang dần bị rút cạn sinh mệnh.
Với huyết thống pháp sư tôn thờ những huyền bí cổ xưa, khoa học… là một điều ghê tởm.
Nhưng ông phải chịu đựng. Ông phải chiến đấu.
“Ta sẽ đặt Chén Thánh – đang ẩn giấu tại Tokyo – vào trong tay này. Khi thời khắc đó đến, chúng ta – những kẻ đã đánh mất ân sủng của ‘Xà Thần Ise’ cổ xưa, đã vươn tay tới pháp thuật phương Tây và dấn thân vào tội lỗi cùng khoa học cấm kỵ – sẽ…”
Họ phải thực hiện chí nguyện ngàn năm của các pháp sư, và cho thế giới thấy rằng dòng tộc Isemi là gia tộc vĩ đại nhất, không chỉ ở Viễn Đông, mà là trên toàn thế giới.
Họ phải giành lại danh dự cho những pháp sư từng sa ngã vào khoa học, cũng như vinh quang cho dòng tộc Isemi – đang bị xem thường như một huyết thống yếu ớt sắp tàn lụi.
Một cách trang nghiêm, lão tộc trưởng tiếp tục tuyên ngôn:
“Vì vậy, ta cầu khẩn ngươi. Hỡi Anh Linh được ta triệu hồi, hãy đoạt lấy Chén Thánh bằng mọi giá!”
Từng lời nói đều chất chứa hối hận, khát vọng và ước nguyện tha thiết của cả dòng tộc―
Tuy nhiên.
“Một chiếc bình quá nhỏ bé, thật nhàm chán.”
Đó là những lời hắn nhổ ra.
Một phán quyết trang nghiêm và tuyệt đối, vang vọng như thể từ thiên giới giáng xuống. Một sự khinh bỉ tàn nhẫn, vô tâm, như thể xuất phát từ địa ngục sâu thẳm.
Đứng trước ánh mắt của Lão Shizuri, hắn khoác lên mình dấu hiệu của một vị vua rực rỡ – giọng nói phát ra từ kẻ có đôi mắt như mặt trời.
Sẽ hơi khác nếu gọi đó là sự khinh thường.
Với người đàn ông này – kẻ khoác lên mình những món trang sức vàng óng và chiếc áo choàng trắng phủ lên làn da rám nắng – thì mọi sinh linh đều không xứng đáng sánh ngang với hắn, mà chỉ là những “thần dân.”
Ngay cả ông lão đeo mặt nạ đang ngồi trên ngai vàng giả tạo kia cũng không ngoại lệ.
“Thật ngu ngốc. Và, à… trên hết là, thật đáng buồn cười.”
Vừa buông lời, người đàn ông ấy – Rider, kẻ vừa được hiện thân vào khoảnh khắc đó – khẽ suy nghĩ.
Phải chăng thời nào cũng thế?
Trong số hàng ngàn thần dân của hắn, đôi khi vẫn có những kẻ bị sự ngu ngốc bủa vây.
Dù đã trôi qua hàng nghìn năm, con người trên Trái Đất này vẫn không có nhiều thay đổi.
Với những món đồ nhỏ bé, bé đến mức không vừa tay hắn, chẳng có gì khiến hắn hứng thú hay cảm thấy lấp lánh.
Thần dân. Lính tráng. Các tướng lĩnh. Ngay cả những vị vua trị vì các quốc gia – không chỉ riêng các Pharaoh – cũng chẳng khác biệt là bao.
Vậy nên――
Việc kẻ trước mặt hắn chỉ là một người thường, không khiến hắn nổi giận với tư cách một vị Pharaoh.
Nhưng. À, nhưng nếu…
Nếu họ dám ngẩng cao đầu, mơ với tay đến thiên giới mà không biết thân biết phận, thì với tư cách là mặt trời, là thần linh, là tồn tại sánh ngang Amun và Mut, hắn có nghĩa vụ trừng phạt những kẻ nhỏ bé ấy.
Trừng phạt – hay nói cách khác, là cái chết.
Sự ngạo mạn và vô lễ đối với hắn – một vị thần trên trần thế – là tội đáng chết.
“Pháp sư đang cư ngụ nơi đất viễn đông này. Hẳn ngươi đã dùng một vật làm chất xúc tác để triệu hồi ta. Tốt nhất là hãy nói ra. Ngươi đã dùng gì? Là mảnh tàn tích từ cây cung hay cỗ xe ta từng dùng trong trận chiến sinh tử với vua Hittite? Hay là bản khắc của hiệp ước ta đã ký kết với họ? Hay ngươi lấy cắp thứ gì đó từ chính xác ướp của ta?”
Tất cả những vật phẩm hắn nhắc tới đều là những thứ chứa đựng Huyền Bí sâu sắc bởi niên đại lâu đời của chúng.
Không khó để tưởng tượng sức mạnh khủng khiếp mà chúng có thể mang lại – dù là di vật của một kẻ từng được thờ phụng như Pharaoh hay như thần thánh, kẻ từng mơ về một thế giới đại đồng nơi hắn ngự trị như Thần.
Đặc biệt, đó có thể là hiệp ước chống xâm lược cổ xưa nhất thế giới – một bản khắc do chính tay vị vua ấy viết ra để lập hòa ước giữa hai đế quốc lớn, khiến nó trở thành mục tiêu thèm khát của bất kỳ pháp sư nào.
Hắn không nhìn thấy được nét mặt của Lão Shizuri khi nghe những lời như trách mắng và đả kích ấy – vì ông đeo mặt nạ.
Chỉ thấy ông già lắc đầu.
Dĩ nhiên, không có Huyền Bí nào trong số đó là chất xúc tác đã triệu hồi Rider dưới chân núi Okutama.
Thứ duy nhất có thể triệu hồi hắn – Anh Linh vĩ đại nhất Ai Cập cổ đại, vùng đất tràn ngập Huyền Bí – trở thành Servant của Cuộc Chiến Chén Thánh, chính là những di vật gắn liền với người mà hắn yêu quý.
“…Quả đúng như ngài phán đoán, thưa Đại Pharaoh. Chúng tôi đã dùng chiếc vòng cổ cuối cùng mà Hoàng hậu Nefertari từng đeo làm chất xúc tác để triệu hồi ngài.”
“Ra là vậy.”
Im lặng. Rồi…
“Haha! Các ngươi đã nghiên cứu rất kỹ về ta đấy. Đúng là ta bị hấp dẫn bởi hương thơm của Nefertari xinh đẹp – người duy nhất tỏa sáng như mặt trời – hơn là những món đồ bắt nguồn từ chính bản thân ta!”
Cười vang một tràng――――
Ngay lập tức, ánh mắt hắn trở nên sắc lạnh.
Cái nhìn giết người đầy sát khí mạnh mẽ giáng thẳng về phía ngai vàng.
Cùng lúc đó, Uraeus – con rắn thần phóng ra từ mũi thuyền Mesektet, Bảo Khí Chân Chính mà chỉ cây cung sáng rực của nó được hiện ra trong lòng đất – bắn ra và xé toạc không gian xung quanh Lão Shizuri.
Một luồng sáng dữ dội và tiếng nổ chấn động.
Toàn bộ bốn tầng Kết Giới được thiết lập để triệu hồi Anh Linh hùng mạnh chẳng còn nghĩa lý gì.
Nó phá vỡ kết giới.
Lớp kính chống đạn trong suốt bí mật ngăn cách Rider và Lão già cũng vỡ tan.
Bức tường dày lẽ ra đã được gia cố bằng ma thuật cũng bị phá hủy, cả lớp vỏ sắt bên ngoài cũng bị nghiền nát.
Ngay cả xưởng phép nằm sâu dưới lòng đất này – nơi được thiết kế như một hầm trú ẩn phòng trường hợp chiến tranh hạt nhân thời Chiến Tranh Lạnh – cũng sẽ bị xóa sổ hoàn toàn nếu Thuyền Mặt Trời bộc phát toàn bộ sức mạnh thực sự của nó.
Lão già ngã khỏi ngai vàng, chứng kiến tất cả.
Hình bóng rực rỡ ấy từ từ bước tới gần ông.
Hình ảnh một vị vua phẫn nộ – như thể Thần Chết khoác hình hài con người.
Lão vẫn còn sống, không phải nhờ Kết Giới bảo vệ, cũng không phải nhờ may mắn.
Chính Rider, người đã nhận định rằng hủy diệt ông ta ngay lập tức không phải là một hình phạt thích đáng, mới là lý do khiến ông chỉ bị thương nhẹ.
“Thật nhàm chán.” – Lạnh lùng.
Rider nói, trong ánh hào quang bao phủ khắp thân thể.

“Nếu ngươi đã xúc phạm nơi yên nghỉ của hoàng hậu yêu dấu của ta, ngươi có tưởng tượng được cái kết dành cho bản thân không? Hãy chọn đi. Ngươi muốn bị thú thần của ta nuốt chửng, hay muốn bị xóa sổ cùng toàn gia tộc của ngươi ngay tại đây? …À, mà đừng nghĩ tới việc dùng Lệnh Chú. Ánh sáng của ta sẽ thiêu rụi ngươi nhanh hơn lời nói của ngươi có thể chạm tới tai ta.”
“N-Ngươi… ngươi từ bỏ điều ước với Chén Thánh sao…?”
“Ta thà làm vậy còn hơn phải nhảy múa trong lòng bàn tay của một con chó vô lễ. Giờ thì, chọn đi.”
Hai lựa chọn. Nhưng liệu cả hai có kết thúc giống nhau?
Một bản án tử hoàn toàn không thể tránh khỏi.
Lão Shizuri ngất xỉu đến hai lần chỉ trong ba giây, vì không thể chịu nổi luồng sát ý khủng khiếp dội thẳng từ ánh mắt của Rider – như một cú sốc vật lý thực sự. Không, ông không thể chịu đựng nổi. Quá nực cười, quá ngu ngốc, quá bất lực để có thể đối mặt với nỗi sợ hãi đến từ cái chết và bạo lực.
Tuy nhiên, đây là điều hoàn toàn tự nhiên. Trừ khi có khí chất hoàng gia bẩm sinh, những kẻ thấp kém như pháp sư không thể chịu nổi khí thế vương giả của Rider.
Tuy vậy. Nhưng mà.
Lão già tỉnh lại hai lần nhờ cơ chế tự động của Ma Thuật Cụ – thứ tự kích hoạt ma lực trong cơ thể, và ngay trước khi bất tỉnh lần thứ ba, ông đã gắng gượng giữ tỉnh táo bằng chính ma thuật của mình.
“Ồ. Ngươi cũng gan đấy chứ, với một pháp sư. Hay ngươi muốn tận hưởng khoảnh khắc cái chết trong trạng thái tỉnh táo đây?”
“……. Không phải.”
Vừa thở hổn hển, Lão Shizuri khẽ đáp:
“Ta sẽ không cầu xin ngài tha thứ cho sự vô lễ của ta.
Ta đã chấp nhận từ lâu rằng mình có thể bị giết.
Để hoàn thành đại nguyện của toàn thể pháp sư.
Để phô bày sức mạnh của tộc Isemi.
Vì thế, ta đã triệu hồi ngài – kẻ sánh ngang Amun và Amon――――”
“Ta hiểu rồi.”
Chỉ hai giây trôi qua kể từ khi Rider tiếp nhận lời của lão già cho đến khi hắn trả lời.
Đối với tộc Isemi, hai giây đó có thể nói là đỉnh cao của vận may.
Sau khi tỏ vẻ như đang suy ngẫm, người đàn ông rực rỡ ấy nhảy khỏi chiếc thuyền mặt trời, Bảo Khí của hắn giờ đã biến mất đâu đó trong không gian, rồi tuyên bố một cách trịnh trọng, áo choàng trắng phấp phới như một vị thánh đang diễn tuồng.
Trong lúc nhìn xuống đôi mắt của Shizuri Isemi, nơi sau lớp mặt nạ đang thoáng hiện một biểu cảm lạnh như băng.
“Ta là vinh quang, ta là thiên thượng, ta là sự độ lượng. Sinh mạng ngươi, hiện tại nằm trong tay ta.”
“Ngươi nói rằng đã chuẩn bị tâm lý để chết. Vậy thì, hãy để ta tận mắt nhìn thấy giá trị của gia tộc các ngươi, và xem liệu cảm xúc, ước nguyện đó có xứng đáng với kỳ vọng của Chủ Nhân ta hay không.”
――――Nhưng. Nếu điều đó là tầm thường.
――――Hãy biết rằng ngươi và cả gia tộc ngươi sẽ lập tức bị thiêu rụi bởi vinh quang của ta, tan biến như khói sương.
*****
Về các trận công thành trong Cuộc Chiến Chén Thánh.
“Trận công thành” trong trường hợp này chỉ chiến lược mà Master sẽ cố thủ trong xưởng phép của mình và hoàn toàn không lộ diện.
Vì các Servant sở hữu sức mạnh vượt trội, nên thoạt nhìn thì việc tránh các trận chiến trực diện và ẩn mình trong xưởng phép có vẻ là điều hợp lý.
Dù có thắng bao nhiêu trận đi nữa, việc để một Master bị thương hay chết vẫn là điều không thể chấp nhận.
Việc bảo vệ mạng sống của bản thân luôn là ưu tiên hàng đầu.
Tuy nhiên, ngoại trừ Caster, hầu hết các Servant không phù hợp với chiến lược công thành.
Một khi nơi ẩn náu của họ bị lộ, phe địch chắc chắn sẽ tấn công vào.
Nếu không có một xưởng phép cấp độ đền thờ cực kỳ mạnh mẽ, thì việc phòng thủ gần như là bất khả thi.
Hơn nữa, ngay cả khi chỉ để các Anh Linh chiến đấu bên ngoài xưởng phép và cố gắng tiêu diệt phe địch mặc dù điều đó không phải là không thể――――
Việc giành chiến thắng chỉ bằng sức mạnh của Servant mà không có hỗ trợ phép thuật từ Master hoặc tăng cường bằng Lệnh Chú, thì điều đó chỉ khiến bạn rơi vào thế bất lợi.
Ngay cả khi thắng trận nhờ sử dụng Bảo Khí…
Một khi thân phận Anh Linh và thông tin về Bảo Khí của bạn bị lộ, việc tiếp tục chiến đấu với các phe khác bằng chỉ một Servant sẽ trở nên vô cùng nguy hiểm.
Dựa trên những sự thật này,
Chiến lược cố thủ trong xưởng phép chỉ thực sự phù hợp với phe Caster.
Ngoại trừ――――
Khi Servant được triệu hồi có sức mạnh vượt trội.
Nếu đó là một đại anh hùng không cần đến sự hỗ trợ của Master, và vẫn duy trì được sức mạnh chiến đấu không lay chuyển ngay cả khi phải đối mặt với nhiều phe địch cùng lúc, thì kể cả khi thông tin về Bảo Khí đã bị lộ, họ vẫn có thể nghiền nát kẻ thù bằng sức mạnh áp đảo.
Khi đó, pháp sư chỉ cần ẩn mình trong xưởng phép và giao toàn bộ cuộc chiến cho Servant.
―――
Chiến thuật như vậy có phần thực tế hơn đôi chút.
(Trích từ một quyển sổ tay cũ)
*****
Quả thật, đây là một xưởng phép ngầm dưới lòng đất có cấu trúc như mê cung.
Thật đáng ngạc nhiên, hệ thống chiếu sáng ở đây được bố trí rất đầy đủ, và hầu như không có chút bóng tối nào trong không gian bê tông dưới lòng đất này.
Chẳng lẽ chỉ có lúc anh được triệu hồi mới chìm trong bóng tối? Trước tiên, điều này để lại một ấn tượng khá tích cực. Ánh sáng là điều không thể thiếu đối với Rider, vì thế nếu nơi ngầm dưới lòng đất này được định nghĩa như “lãnh thổ” của anh ta, thì thật không phù hợp khi nó lại tràn ngập bóng tối như đêm đen bất tận.
“Nhưng sáng thế này… là sao chứ?”
Cấu trúc khoáng vật nơi đây khiến anh liên tưởng đến bên trong một lăng mộ.
Các Pharaoh đời trước có thể sẽ cảm thấy một điều gì đó linh thiêng tại đây, nhưng riêng với anh thì lại có tác dụng ngược.
Trong suốt cuộc đời mình, anh chưa từng xem trọng lăng mộ hoàng gia của chính mình.
Đối với anh, người từng có ý định thống nhất trời và đất, và tuyên bố rằng mình là Pharaoh cai trị cả hai thế giới với tư cách là Thầnthì lăng mộ, vốn được coi là “ngôi nhà của kiếp sau”, không phải là thứ khơi gợi sự tò mò hay hứng thú. Trái lại, nó còn khiến anh có cảm giác ghê tởm――――
“Cứ như thể chúng mua chỗ này chỉ để làm ta thấy khó chịu.”
Ánh sáng thì tốt.
Nhưng việc cố tình ẩn mình trong một nơi giống như lăng mộ thì thật phiền toái.
Tuy vậy, vì chính miệng đã nói rằng sẽ “đích thân xem xét”, nếu phá hủy nơi này ngay lập tức thì chẳng khác nào tự mình nuốt lời.
Sự công bằng là bản chất của một Pharaoh, vì thế Rider dạo quanh xưởng phép ngầm với tâm thế tạm thời bỏ qua sự không hài lòng trước đó.
Anh không gặp quá nhiều người, nhưng nhìn chung, các thành viên của tộc Isemi trong xưởng phép ngầm đều mặc áo blouse trắng, loại trang phục của các học giả hay bác sĩ trong thời đại thế kỷ 20 này.
“Tri thức tối thiểu” mà Chén Thánh truyền cho anh có bao gồm thông tin về thời đại hiện tại, nhưng không hề có chút thông tin nào về việc các pháp sư, hiện thân của điều huyền bí, lại ăn mặc như học giả hoặc bác sĩ, những kẻ nắm giữ tri thức khoa học tối tân.
“――――Hừm.”
Khi người thứ mười hai cúi đầu trước anh một cách cung kính, Rider nghiêng đầu, và dừng lại trước phòng bệnh lớn số bảy.
Tôi hiểu rồi――――
Anh gật đầu hài lòng, như thể hồi tưởng lại một điều gì đó vừa khiến mình phần nào chấp nhận được.
Căn phòng mà anh đang nhìn vào được trang bị máy tính cỡ lớn.
Những cỗ máy thực sự được tạo ra bởi nền văn minh hiện đại, chứ không phải những Ma Cụ (Mystic Code) hay công cụ nghi lễ từ giả kim thuật.
Thiết bị lưu trữ kiểu cuộn phim khổng lồ phát ra tiếng động lớn và quay vòng kia, theo tri thức tự động được truyền vào đầu anh, có lẽ chính là thứ mà thời đại này gọi là siêu máy tính.
Các phòng khác cũng tương tự. Thậm chí có phòng trông giống như bể nuôi Homunculus, được kết nối với những cỗ máy hiện đại.
“Dựa theo lời của lão già đeo mặt nạ thì…”
Tộc này dường như đã tiếp thu phần nào khoa học hiện đại, điều khá hiếm đối với một pháp sư.
Thậm chí có thể nói rằng—họ đã cải tiến lý thuyết pháp thuật, vốn không còn hy vọng phát triển thêm, bằng cách bổ sung nó với khoa học hiện đại, thứ mà pháp sư bình thường nên tránh xa.
Cũng khá buồn cười nữa.
Họ đã cố gắng và đạt được cái gọi là “dung hợp” giữa khoa học hiện đại và ma thuật――――
Nói thì nghe hay đấy, nhưng dưới góc nhìn của Rider, đó chỉ là một từ ngữ đáng thương.
Gọi là dung hợp sao?
Chẳng qua chỉ là lấp liếm sự thiếu hụt về Huyền Bí bằng máy móc, rồi lại lặp đi lặp lại những sự chắp vá ngày một lớn hơn.
“Thật xấu xí.”
Ngay từ đầu, Rider chưa bao giờ nghĩ các pháp sư là đẹp đẽ gì.
Trong thời đại của mình cũng có những người tương tự, thậm chí có vài pháp sư là cận thần dưới trướng anh. Nhưng phần lớn bọn họ đều là những ẩn sĩ biệt lập với thế giới, chẳng khác nào sống tách biệt.
Việc công dân quỳ rạp trước Pharaoh là chuyện hiển nhiên, vậy mà đối với mấy pháp sư đó thì lại là hành động ngu ngốc không tưởng.
Tất nhiên, không rõ các dòng pháp sư của Ai Cập cổ có còn tồn tại đến ngày nay hay không, nhưng thói quen của họ có lẽ cũng không thay đổi nhiều theo thời gian.
Ngay cả với tiền đề đó, lối sống của tộc Isemi còn xấu xí hơn cả.
Cứ như thể họ đang vùng vẫy để thoát ra, trước khi họ lìa đời―――― Vào thời khắc cái chết đến, anh đã nhớ lại nỗi bi thương của mình khi đối diện với cái chết.
“Ta nên thiêu rụi bọn họ chăng?”
Trong khoảnh khắc ấy, anh tự hỏi liệu có nên hành động theo lời mình vừa lẩm bẩm hay không. Rider bước vào một căn phòng nhất định.
Đó là một căn phòng trắng xóa. Trong số vô vàn căn phòng dưới lòng đất được chiếu sáng bằng ánh đèn huỳnh quang hiện đại quá trắng, thì căn phòng này lại được chiếu sáng rực rỡ đặc biệt. Rider nheo mắt, cẩn thận quan sát căn phòng ấy.
Anh chỉ cảm thấy bực bội: “Không biết đám đèn này bao giờ mới cháy luôn đi?”
Có một vật khiến ánh mắt anh dừng lại. Mọi suy nghĩ và cảm xúc vừa rồi lập tức bị gạt sang một bên.
Ở phía bên kia ánh nhìn――――
Là một sinh thể nhỏ bé đang nằm trên giường.
Là một đứa trẻ nhỏ, bị kết nối với đủ loại máy móc bởi hàng loạt dây cáp.
Có phải em ấy đã bị tra tấn?
Rider có thể nhìn lướt qua là hiểu rằng cơ thể đứa trẻ gần như bị khiếm khuyết nghiêm trọng. Không chỉ tay chân mà cả nội tạng cũng có vấn đề. Anh nhìn vào những chỉ số trên các thiết bị được nhúng vào máy móc, và đọc thông tin hiển thị. Rõ ràng, đứa trẻ này đã bị bệnh bẩm sinh.
Anh không thể đoán được tuổi em.
Bốn, năm tuổi chăng?
Rất khó để tưởng tượng rằng tình trạng như vậy có thể dẫn đến sự phát triển bình thường.
Thậm chí còn đáng nghi ngờ rằng tuổi thật có khớp với vẻ bề ngoài.
Ngược lại, việc đứa trẻ này vẫn còn sống đến bây giờ mới là một phép màu, bởi một số cơ quan sống còn của em đã ngừng hoạt động, nhưng có vẻ như chúng được duy trì sống sót một cách miễn cưỡng bằng công nghệ của tộc Isemi — thứ công nghệ hỗn tạp giữa khoa học và ma thuật.
Có lẽ, em cũng sở hữu mạch phép — một nỗi đau buồn khác nữa.
Nếu đây là một dòng pháp sư đang suy tàn, thì những người kế thừa mạch phép từ cha mẹ sẽ dùng mọi phương tiện để truyền lại nó cho thế hệ kế tiếp.
Dù cho căn bệnh khiến đứa trẻ đau đớn đến mức mỗi nhịp tim, mỗi hơi thở đều như hành xác.
“………”
Rider nhìn thẳng vào mắt đứa trẻ.
Đứa bé ấy mở mắt ra, và nhìn lại ánh sáng mặt trời tỏa ra từ Rider bằng đôi mắt nhợt nhạt.
Không có lời nào vang lên.
Kỳ lạ thay, điều đó không mang chút bất kính nào.
“Ngươi, tên là gì?”
Không có câu trả lời.
Chỉ có hơi thở yếu ớt vang lên qua thiết bị hỗ trợ hô hấp bằng nhựa.
Dù điều đó có chút khó chịu, nhưng Rider không hề có ý định trừng phạt em.
Nếu những thông tin trên máy móc là đúng, thì lúc này em bé đang phải chịu đựng gánh nặng khủng khiếp.
Dù là đau đớn hay khổ sở, chỉ cần nhìn thôi cũng biết, cảm xúc đó là điều dễ hiểu. Vì vậy, Rider bắt đầu có hứng thú với em.
Một người như vậy, bị căn bệnh gặm nhấm đến thế, thì đã từng nghĩ gì?
“Ta là một vị Đại Pharaoh. Nếu ngươi cầu khẩn lên trời với tư cách là thần dân của ta, ta sẽ lắng nghe và ban cho ngươi lòng từ bi của ta.”
Rider nhẹ nhàng nói với đứa trẻ.
Tóm lại.
‘Nếu ngươi ước nguyện, ta sẽ giết ngươi ngay lập tức.’
Tất nhiên, anh xem cái chết là một sự giải thoát.
Nhưng chưa kịp nghĩ thêm thì――――
“……..Em có… một điều… muốn ước.”
Một giọng nói run rẩy vang lên từ thiết bị trợ thở.
“Cho mọi người….”
Âm thanh quá yếu ớt.
“…trên thế giới… được… hạnh phúc…”
“…Cái gì?”
Anh không thể tin vào tai mình khi nghe lời nói của đứa trẻ.
Đồng thời, trong lòng Rider dâng lên một cảm xúc kỳ lạ dành cho sinh linh nhỏ bé đang phải ẩn giấu nỗi đau tử thần mà vẫn cất lên tiếng nói đó.
Đó là một thứ khí chất.
Không phải khí chất của pháp sư.
Không phải mana, không phải mạch phép, không phải phù ấn, càng không phải sức mạnh hay tạng phủ hữu hình.
Mà là một thứ gì đó mơ hồ, không thể nắm bắt, nhưng hơn tất cả—Rider có thể cảm nhận được điều đó.
Không phải tinh thần của một vị vua.
Cũng không phải khí chất của một chiến binh.
Càng không phải là tài năng pháp thuật. Không thể là những thứ tầm thường như thế được!
Cảm giác này.
Sự hiện diện này.
Khí chất cao quý này.
Và, à… những lời mà em vừa nói――――
―――― Đó là một ngày trong quá khứ xa xăm, rất xa xăm.
Tất nhiên, đó là trước khi anh được triệu hồi làm Anh Linh ở thế kỷ 20.
Là khi anh vẫn còn ka (linh hồn) và một cơ thể nguyên vẹn.
Chỉ một chút trước khi anh lên ngôi Pharaoh cùng với cha mình, vua Seti.
Và dù lúc đó vẫn là một cậu bé, anh đã được công nhận là thái tử, được trao ngai vàng của thần Geb, được giao trọng trách xây dựng đền Abydos — nơi thần Osiris phục sinh — và bắt đầu tích lũy kinh nghiệm chính trị với tư cách là tổng trấn xứ Nubia.
Trên bờ sông Nile thuần khiết ngày ấy.
Không lâu sau, anh quên hết mọi binh nghiệp và chính sự, chỉ mỉm cười bên cạnh hai người đã yêu thương anh hơn tất cả mọi thứ.
“Chúng ta… đã bắt đầu gặp nhau như thế này từ bao giờ nhỉ?”
Người nói điều đó một cách rụt rè chính là cô gái anh yêu thương nhất.
Thiếu nữ xinh đẹp Nefertari, người mà vài năm sau sẽ trở thành hoàng hậu chính thất của anh.
Người bạn đời đã luôn trao cho anh tình yêu và sự kính trọng chân thành nhất suốt cuộc đời bằng việc chấp nhận để anh có nhiều phụ nữ và con cái — với bốn công chúa, sáu phi tần, và hàng trăm tình nhân. Trong số tất cả bọn họ, nàng là người xinh đẹp nhất, không thể nhầm lẫn, là người tuyệt vời nhất.
Anh vẫn có thể nhớ rõ nàng như vậy. Hình bóng đáng yêu ấy thật sự… là một vị nữ thần.
Vẻ đẹp trong điệu múa của nàng, sự tráng lệ trong khúc hát của nàng — chắc chắn đã khiến nàng trở thành hiện thân của nữ thần Hathor, vị thần của tình yêu và lãng mạn, nơi trần thế―――
Nàng là một cô gái dịu dàng, đáng yêu, và vô cùng nhân hậu.
Anh vẫn nhớ mình đã rất ngạc nhiên khi biết rằng nàng từng trao đổi thư từ với Hoàng hậu Puduhepa của người Hittite — kẻ thù định mệnh của anh.
Anh nghe rằng Nefertari và hoàng hậu Puduhepa đều rất vui mừng về hiệp ước hòa bình mà anh đã ký kết với người Hittite.
Dù từng thể hiện lòng dũng cảm khi sẵn sàng bước ra chiến trường, nhưng nàng vẫn luôn ngập tràn tình yêu thương — trái tim nàng tỏa sáng như một đóa hoa giữa trần thế.
“Thật tuyệt khi cả hai vẫn mạnh khỏe. Ta rất vui vì chúng ta có thể trò chuyện như thế này.”
Và rồi…
Người nói câu ấy một cách nhẹ nhàng là người bạn thân yêu nhất đời anh.
Một cậu bé người Naruna, được mẹ anh — một người phụ nữ xinh đẹp và nhân hậu — nhặt được bên bờ sông Nile và nuôi dưỡng cùng anh.
Cậu ấy là người anh em duy nhất trên thế gian này có tài năng và phẩm chất xứng đáng sánh ngang với chính anh — người được định sẵn để trị vì thế gian này với tư cách Pharaoh.
Cậu bé ấy có làn da trắng đặc trưng của tộc Naruna, khác hẳn với làn da rám nắng của người bản địa như anh.
Nếu cậu ấy không phải là con nuôi, mà là con ruột sinh ra từ bụng mẹ anh, và nếu làn da trắng nhợt kia không quá nổi bật, thì chắc chắn vua Seti đã truyền lại ngôi vị Thái tử và ngai vàng của thần Geb cho người em này.
Và nếu điều đó xảy ra…
Thì có lẽ, anh đã quyết định trở thành một vị tướng can đảm phò tá em trai mình — dù trong lòng vẫn có chút ghen tị.
/* Naruna: có nghĩa là “thanh niên” hoặc “binh lính” trong chữ tượng hình Ai Cập cổ. Nó cũng bắt nguồn từ “Ne’arim”, một từ tiếng Do Thái dùng để chỉ những cậu bé, thanh niên và đàn ông trẻ tuổi. Có vẻ như trong Ai Cập cổ đại, binh lính cũng bao gồm cả nô lệ, vì vậy tôi đã chọn cách dịch là “người Naruna” để thể hiện sắc thái đó. */

Anh ấy chắc chắn yêu thương người em trai đến mức có thể nghĩ vậy từ tận đáy lòng. “em nghĩ, sẽ thật tuyệt nếu mọi người trên thế giới đều được hạnh phúc.”
Anh nghĩ đó là câu nói yêu thích của cậu bé, người em trai của mình.
Ngày đó cũng vậy.
Cậu bé nói trong niềm vui gặp lại nhau.
“Giống như hòa bình giữa con người và thế giới, anh nghĩ các vị thần trên trời, Pharaoh và các vị thần mà người Naruna thờ phụng chắc chắn cũng mong muốn điều đó.”
“Ồ. Vậy là cậu tự nhận mình hiểu được lòng của các Pharaoh và các vị thần, dù cậu không phải là Pharaoh sao?”
Anh hỏi người anh trai mơ mộng của mình.
Dù tự hào mình thông minh hơn ai hết, thực ra anh nhận ra người anh trai này hiểu biết hơn nhiều và luôn nhìn thấy bức tranh lớn hơn. Chính vì thế, dù lời nói có chút châm biếm, cũng không hề ác ý.
Có lẽ nếu nói vậy thì cũng đúng một nửa cảm xúc đó.
“Ôi Ramesses, đừng có ác ý vậy,” Nefertari mỉm cười.
“Cô đang nói gì vậy? Đây không phải là ác ý đâu.” Ít nhất là một nửa là không.
“Pharaoh tiếp theo chắc chắn sẽ là anh, Ramesses. Người sẽ lên ngôi như các vị thần, không, thậm chí như thần Amun, sẽ là Pharaoh vĩ đại nhất mọi thời đại.
…Và, ta biết điều đó vì ta hiểu phần nào trái tim cậu.”
“Thế là đã đến lúc rồi sao?”
Nói vậy, anh cũng mỉm cười.
Quả thật. Ngoài Nefertari ra, chỉ có cậu biết trái tim anh trai mà thôi. Và chàng trai trẻ, người em trai, đã nói.
“Chẳng bao lâu nữa một Pharaoh vĩ đại sẽ xuất hiện.”
“Để mang lại niềm vui, hòa bình, sự yên tĩnh và ổn định cho tất cả những ai sống trên trái đất này――――”
“Anh còn có thể mang niềm vui đến cho cả người Hittite nữa đấy.”
“Cậu nói quá rồi. Tôi tự tin có thể chiến thắng trong chiến tranh, nhưng…”
“Anh có thể làm được mà. Em nói với anh rằng anh không phải người bình thường. Nghe này, anh sẽ là Ozymandias, người được mọi người trên thế giới yêu mến!”
“Nói dễ quá, vì cậu chưa biết gì về chiến tranh.”
“Không, Ramesses. Kỳ lạ thật, nhưng em nghĩ đó là một điều giống nhau.”
“Nefertari, cô hay mơ mộng quá. Hai người nghĩ gì về tôi?”
“Dù sao thì anh vẫn là anh mà,” cô gái lại mỉm cười.
“Đúng vậy, em cũng nói vậy vì anh là chính anh,” chàng trai trẻ cũng mỉm cười.
Ngày đó. Thời điểm đó.
Bên cạnh cô gái yêu dấu, anh lắng nghe lời của người anh thân thiết. Một số cảm xúc trào dâng trong tim anh là――――
Niềm vui, vinh dự và tự hào.
Sau này, khi đối mặt với người anh trai quyết định chia lìa, mỗi người một hướng, khi anh thực sự trở thành Pharaoh, khi đối mặt với Moses – người được chọn sẽ chia cắt biển lớn và dẫn dắt một số đông người Naruna đến Israel, đó là khoảnh khắc đầu tiên trong đời anh cảm nhận rõ một điều thiêng liêng không phải là Pharaoh.
Anh không thể nào quên được.
Dù đã có thù địch và chia lìa, anh vẫn nhớ rõ cho đến bây giờ, sau khi cuộc đời anh đã kết thúc một lần.
Gương mặt và tiếng nói của chàng trai trẻ, người đã ước nguyện hạnh phúc cho tất cả mọi người trên thế giới――――
“Hiện nay có ai như cậu, đã trải qua thời gian dài như sự vĩnh hằng đó không?”
Rider thì thầm.
Ở một góc trong căn hầm dưới đất, trong một căn phòng được chiếu sáng bằng ánh đèn trắng rực rỡ, anh mỉm cười nhẹ nhàng một cách bản năng với đứa trẻ không thể cử động, vẫn đang được nối với dây cáp.
“Thật không ngờ, sau ba nghìn mấy trăm năm, ta lại nghe lại những lời đó. Hãy vui lên, đứa trẻ bị ràng buộc. Nhờ sự tồn tại của con, gia tộc Isemi đã được phép sống tiếp.”
Không có hồi đáp.
Đứa trẻ dường như đã mất ý thức trước cơn đau.
Có lẽ ngay cả trong giấc mơ, đứa nhỏ này vẫn sẽ tiếp tục suy nghĩ về những lời anh vừa nói, trong khi chịu đựng và cảm nhận đau đớn.
――――Giống như người bạn thân nhất của Rider.
*****
Về việc giao tiếp với Anh Linh.
Như đã đề cập trước đây, việc xây dựng mối quan hệ giữa Master và Servant là vô cùng quan trọng.
Anh Linh được triệu hồi bởi chức năng của Chén Thánh đều có một nguyện vọng.
Về cơ bản, Master và Servant được liên kết bởi mục tiêu “chiến thắng trong Cuộc Chiến Chén Thánh,” nhưng dựa hoàn toàn vào điều đó là một điều nguy hiểm.
Chức năng của Chén Thánh trao cho pháp Sư Lệnh Chú với sức mạnh ma thuật vô cùng lớn.
Lệnh Chú cũng là quyền tuyệt đối ra lệnh cho Servant, nhưng khi xem xét chúng như một chiến lược/chiến thuật, một khía cạnh của nó là “tăng cường khả năng” cần được nhấn mạnh.
Sử dụng Lệnh Chú như một “hành động cưỡng ép” để giải quyết sự mâu thuẫn trong mối quan hệ là quá nguy hiểm.
Như tôi đã nhắc nhiều lần, hãy hiểu rằng đó là một nước đi sai lầm. Ngay khoảnh khắc bạn làm vậy, mối quan hệ đôi bên sẽ bị phá vỡ hoàn toàn. Hãy dùng Lệnh Chú chỉ để tăng cường sức mạnh cho Anh Linh của bạn.
Mặc dù đây chỉ là một khả năng――――
Nếu bạn không thể xây dựng được mối quan hệ suôn sẻ, hãy cân nhắc sử dụng người khác.
Ngay cả khi họ không hợp với Master, nếu họ hợp cạ với một trong những người thân của Chủ nhân, khả năng Thần Sứ nổi loạn ngay lập tức sẽ giảm xuống.
Tất nhiên, đó chỉ là lý thuyết suông.
Việc để người khác, đặc biệt là người thân trong gia đình, ở gần Master trong Cuộc Chiến Chén Thánh được xem là nguy hiểm và không bao giờ được khuyến khích.
Tôi sẽ nhắc lại một lần nữa.
Đừng bao giờ tham gia Cuộc Chiến Chén Thánh với con cái bên cạnh.
Trừ khi bạn không ở trong tình huống có thể thiết lập trận bao vây như đã nói trên. Điều đó không nên được xem là một lựa chọn.
(Trích từ một cuốn sổ tay cũ)
*****
Ở một nơi nào đó trong bóng tối. Có người đang trò chuyện.
Một cô gái lộng lẫy và một người đàn ông thông thái trầm lặng.
Không ai biết bóng tối nào đang ẩn chứa trong họ lúc này. Điều duy nhất có thể nói là――――
Chỉ có thể là về “cái cốc” khổng lồ, sâu dưới lòng Tokyo kia.
Không, thật sự đó có phải là cái cốc?
Chẳng phải là “cái nồi” di chuyển như chính những hố tối tăm kia sao?
“Quý cô Manaka. Tôi e rằng phải báo cáo.”
“Chuyện gì vậy, Caster? Cậu phát hiện ra điều gì thú vị sao?”
“Tôi đã xác định được Huyễn Tưởng Chủng đã tấn công cô và Saber ngày hôm trước.”
“Con mèo đó hả? Nó không dễ thương chút nào.”
“Đó――――là một Thú Thần. Ở Ai Cập cổ đại, Sphinx được biết đến như hiện thân của thần trời Horus và tồn tại như sự biểu hiện của những cơn gió và ngọn lửa cuồng nộ. Tất nhiên, cô chắc cũng đã biết điều này mà không cần tôi phải nói.”
“Sphinx, vậy sao?”
“Thân phận thật sự của Rider, kẻ điều khiển nó, rất có thể là một pharaoh từ Ai Cập cổ đại.”
“Hmm.”
“Có khả năng sẽ nói chuyện với hắn trước đó. Nếu tên thật của Rider đúng như tôi nghi ngờ, thì ngoài cô ra, Saber sẽ hơi gặp bất lợi. Không cần phải nói, Assassin sẽ bị tiêu diệt ngay cả khi chưa kịp cử động.”
“Ồ. Saber của tôi sẽ ổn thôi. Dù sao, thanh kiếm thần thánh của anh ấy là ánh sáng của các vì sao. Những ước nguyện của con người. Dù là Thần hay Quỷ cũng không thể địch lại.”
“…Có thể vậy, nếu anh ấy có thể sử dụng thanh kiếm thần thánh.”
“Hả?”
“Tôi đã có một số biện pháp. Hãy coi đó như bảo hiểm. Đối mặt với một pharaoh vĩ đại, dù là “Vị Vua Vĩ Đại,” kế hoạch tốt nhất và lý tưởng nhất là――hi vọng một chiến thắng chắc chắn.”
“Hmm. Được rồi, tôi sẽ để ông lo.”
“Tuỳ cô.”
Người đàn ông thông thái cúi người thật sâu trước cô gái.
Bộ dáng ấy như một thần dân đang tâu bày trước vị vua của thế giới.
Và rồi.Sáu ngày sau khi Rider hiện hình.
Hai ngày sau khi hắn giết Berserker trong một trận không kích chớp nhoáng từ trên trời ở Biệt Thự Reiroukan.
Một công trình đồ sộ và uy nghiêm xuất hiện tại Vịnh Tokyo vào ban đêm. Một khu đền thờ siêu lớn.
Chói lọi trong vô số ánh đèn, như một biển sao rơi xuống đại dương từ bầu trời đêm.
Một kiến trúc đền thờ xuất hiện với hình dạng phá hủy điểm kết nối giữa đường hầm ngầm dưới nước và cây cầu dẫn đến đảo nhân tạo Kisarazu, thường gọi là “Umihotaru,” đang trong quá trình xây dựng, trên đường cao tốc xuyên Vịnh Tokyo từ Thành phố Kawasaki, tỉnh Kanagawa đến Thành phố Kisarazu, tỉnh Chiba, dự kiến mở vào năm 1997, sáu năm sau, sau một công trình xây dựng lớn dưới nước.
“Đỉnh” của đền thờ, kéo dài hàng km, phá hủy đảo nhân tạo đang thi công.
Kỳ diệu thay, không một người nào thiệt mạng.
Không, hắn rất cẩn thận để đảm bảo không có người chết lúc này. Rider, chủ nhân thực sự và người cai trị đền thờ, đã chắc chắn điều đó.
Đúng vậy, công trình đền thờ vượt lên trên thực tại này chính là hiện thân trong tâm trí Rider và sức mạnh của cả cuộc đời hắn.
Đây là sức mạnh thần thánh vĩ đại nhất của hắn.
Đây là Bảo Khí quyền năng nhất của hắn.
Một thực tại ảo diệu, có thể tùy ý viết lại thực tại.
Bằng cách kết hợp thêm “những ngôi đền tổng hợp gồm nhiều đền thờ” như khu đền Dendera và khu đền Karnak, cùng với các đền thờ và lăng mộ khổng lồ như đền lớn Abu Simbel và Ramesseum, một khu đền thờ to lớn có hình dạng kỳ lạ, không thể tồn tại trong thực tế đã được tạo thành.
Kiến trúc kỳ lạ này kết hợp cả những ngôi đền mà hắn chưa từng làm trong suốt cuộc đời, thể hiện chính xác uy thế của hắn tuyên bố rằng tất cả các đền thờ, quá khứ, hiện tại và tương lai đều thuộc về hắn.
Vì vậy, trước khi là Rider, hắn là một Pharaoh, người phớt lờ mọi truyền thuyết và câu chuyện do các tư tế truyền dạy, chiếm lĩnh thế giới từ góc nhìn của riêng mình, thu phục các thần thoại và nắm giữ và thờ phụng các vị thần.
Thật sự thì mọi thứ trên thế gian này đều thuộc về hắn, và sự thịnh vượng cùng hạnh phúc của thế gian ấy cũng là của hắn.
Tuy nhiên……
Vẫn có một điều mà hắn không thể có được.
“…Không ai trên thế giới này than khóc đúng mức khi họ chết cả.”
Trong “phòng ngai vàng” của đền chính, nằm sâu nhất trong tổ hợp đền thờ――――
Rider nhắm mắt lại trên ngai vàng rực rỡ, cao quý và chân thực hơn bất cứ thứ gì, một ngai vàng không thể so sánh với thứ được dựng tạm nơi tầng hầm tăm tối bởi gia tộc Isemi.
“Ta là tối cao, hoàn hảo và tuyệt đối. Ta phải là vĩnh cửu. Bi kịch của ta chính là việc ta từng là phàm nhân. Giống như những pharaoh khác, sự bất lực của ta chỉ còn cách chinh phục hành trình trở thành Thần, trong khi mộng tưởng về sự tái sinh ở một thời đại xa xăm nào đó.”
Không một ai lắng nghe bài diễn thuyết của hắn.
Chính xác hơn, những gì Rider đang tuyên bố là lời gửi đến Thượng Đế. Là lời gửi đến chính bản thân mình.
“Vì thế, ta sẽ tìm kiếm sự sống từ Chén Thánh. Chắc chắn, ta phải thống trị thế giới này. …Vậy ta hỏi, thế giới hiện tại này, có phải là thế giới mà ta xứng đáng để trị vì không?”
Đó sẽ là một thế giới hắn có thể tận hưởng.
Ít nhất, nếu chỉ xét về các trận chiến, thì cũng không tệ.
Archer, Lancer, và Saber. Ba người ấy chỉ được Hội Pháp Sư đặt cho cái tên chung “Tam Hiệp,” nhưng họ là những Anh Linh đầy sức mạnh. Với hắn, kẻ đã từng chiến thắng vô số trận chiến, hắn tin rằng mình có thể đạt được sự phấn khích như khi đối đầu với quân đội Hittite tại vùng Levant từ những cuộc chiến với họ.
Tuy nhiên, chỉ như vậy thì vô nghĩa. Hắn thích chiến đấu.
Thậm chí, hắn từng nghĩ rằng chỉ cần dùng con dao găm hai lưỡi, thanh kiếm yêu thích của mình, để đối mặt với các anh hùng đó cũng đã đủ, mà không cần dùng đến các Bảo Khí. Nhưng giờ đây, chỉ chiến đấu thôi đã không còn khiến hắn thỏa mãn. Trên hết, người hắn yêu – Nefertari – không ở đây.
Liệu có đáng để chiến đấu không?
Trong thời đại của thế kỷ 20, liệu thế giới này có xứng đáng để hắn quay trở lại sống không? Rider đã khẽ dao động trong những ngày gần đây.
Và rồi――――
“Ta sẽ thừa nhận điều đó, ngay bây giờ.”
Lần đầu tiên kể từ khi được triệu hồi, hắn nở một nụ cười.
Lần đầu tiên là trong căn phòng của xưởng ngầm. Khi hắn nhận được lời nói của đứa trẻ mang trong mình công đức như một vị thánh.
Lần thứ hai là tại biệt thự của gia đình Reiroukan. Khi hắn cảm nhận được sự hiện diện của một cô gái mang khí chất của một vị quân vương.
“Thời đại này cũng có thánh nhân và vua chúa!”
Và, trong khi hình dung về trận chiến quyết định với hiệp sĩ xanh bạc – kẻ đang tàn phá mọi nơi.
Hắn bật cười lớn――――
“Hahahahahahahahahahahahahahahahaha! Được lắm! Ta thừa nhận! Nó đang vẫy gọi ta! Nơi này chẳng khác gì thế giới mà ta từng trị vì, và rõ ràng là ta bị ám ảnh bởi nó! Ta muốn nó! Tại sao ư? Vì thế giới này vốn dĩ được định sẵn là để cho ta thống trị!”
Với một tiếng thét vang vọng.
Từ ngai vàng đến trần nhà, các bức tường và sàn nhà của ngôi đền chính sâu nhất, một lượng nhỏ ánh sáng mờ nhạt giống như mạch ma lực bắt đầu lan tỏa từng tia một. Bóng tối của ngôi đền chính lập tức bị lấp đầy bởi ánh sáng mana.
Tại thời khắc này, Bảo Khí vĩ đại nhất của Rider – Ramesseum Tentyris – thực sự được kích hoạt. Vô số đền thờ bên trong đồng loạt kích hoạt kết giới từ các vị thần tương ứng, các tượng nhân sư bằng đá thức tỉnh, và ngọn “Đại Quang Đăng Dendera” vĩ đại đã biến thành cơn thịnh nộ của thiên giới, bắt đầu ngân vang.

Nói cách khác, kẻ được sinh ra từ thần mặt trời Ra. Horus. Đứa con của Amun, kẻ được sinh ra từ Mut. Một con bò đực toát lên chiến thắng, người bảo hộ của Ai Cập được nữ thần Maat yêu quý, kẻ chinh phục các vùng đất xa lạ, tự hào với những chiến công lẫy lừng qua năm tháng, chúa tể của hai miền, người cai trị vũ trụ, Ramesses, kẻ được Amun yêu thương, Usermaatre Setepenre.
Tên gọi của vị pharaoh vĩ đại và hùng mạnh nhất từng cai trị thế giới Ai Cập cổ đại, vào khoảng một ngàn mấy trăm năm trước Công nguyên.
Khi hắn xưng danh thực sự của mình, cả thế giới phải cúi mình phủ phục dưới hào quang của hắn.
Quá khứ. Hiện tại. Và cả tương lai, điều đó sẽ không bao giờ thay đổi – đó chính là niềm kiêu hãnh của hắn.
Vịnh Tokyo bừng sáng bởi ánh sáng rực rỡ.
Lấp lánh và ngân vang, như thể để tuyên bố rằng thời khắc của trận chiến định mệnh đã đến――――
“Anat và Set, thật tốt vì các ngươi đang ngự trong vòng tay của ta! Ashtart, hãy chúc mừng ta với một vùng đất đẫm máu sau vinh quang của chiến thắng! Ta – kẻ là Horus và Ra – từ giờ sẽ tái sinh và ban phát hạnh phúc cho thế gian này! Ôi, người yêu dấu của ta – Nefertari – hãy ban phước cho tiếng gọi của Ozymandias với tư cách là Hathor!”
Thế giới này phải được chính tay hắn cai trị. Đó là thiên mệnh.
Hắn phải tự mình cứu rỗi thế giới.
Ngay cả khi một trong những thành phố phương Đông này bị thiêu rụi bởi ánh sáng hủy diệt từ bầu trời.
Dù tất cả bọn họ có đến được ngôi đền hay không. Nếu họ cứ cố trốn trong thủ đô, hèn hạ sử dụng dân thường vô tội làm lá chắn, thì Rider – Ozymandias – sẽ dồn ma lực vào Đại Quang Đăng, và khai hỏa từ khẩu đại pháo chính của đền thờ để bắn ra ánh sáng và sấm sét, cho đến khi mọi kẻ thù đều bị san phẳng.
Hoặc có thể, mọi chuyện đã quá muộn.
Nếu có thứ gì đến từ bên kia biển cả – thì hắn sẽ hướng họng pháo về phía đó!
===
Usermaatre Setepenre: Là tôn hiệu (tên ngai vàng hoặc tên triều đại) của Ramesses II được sử dụng trong thời gian ông trị vì. Tên này có nghĩa là: “Sự thật và trật tự của thần Ra là hùng mạnh, Người được Ra chọn lựa.”. Usermaatre là tên định danh chính thức của Ramesses II, mang nghĩa “Sự thật và trật tự (Maat) của Ra là hùng mạnh.”. Setepenre có nghĩa là “Người được thần Ra tuyển chọn.”
Trong bối cảnh văn hóa Ai Cập cổ đại, tên này không chỉ là danh xưng hoàng gia mà còn thể hiện vai trò thần thánh hóa của vị vua – như một người con của thần Ra, được chọn để duy trì trật tự và sự cân bằng trên thế gian.