Vol 5 – Chương 6: Ranh giới của tình yêu và dục vọng
Gã Trai Bao Của Nàng Công Chúa Hiệp Sĩ Vol 5 Chương 6
The Kept Man of the Princess Knight – Himekishi-sama no Himo (姫騎士様のヒモ)
Tác giả: Shirogane Toru
Minh họa: Mashima Saki
Người dịch bản tiếng Anh: Stephen Paul
Chương 6: Ranh giới của tình yêu và dục vọng
“Đừng liều mình như thế nữa. Nếu em chết, chị cũng sẽ rất đau lòng đấy.”
Arwin trách nhẹ April, vừa siết chặt cô trong vòng tay như gấu.
“Nhưng em thật dũng cảm.”
Giọng cô run lên. Cô vuốt ve mái đầu April rồi quay sang phía tôi.
“Xin lỗi vì đã đến muộn.”
“Chậm thêm chút nữa là gã này đã cướp mất trinh tiết của anh rồi”, tôi nói.
“…Vậy là anh vẫn ổn.”
“Là may …!”
Harrison loạng choạng đứng dậy. Tia sét vừa rồi có thể đã giết chết hắn, nhưng hắn vẫn giữ nguyên tâm thế chiến đấu. Dù là do ý chí ngoan cường hay nỗi sợ bị phán xét bởi những thế lực trên cao, ánh mắt hắn nhìn Arwin đầy căm hận.
“Tôi không quan tâm cô là anh hùng hay gì; nếu cô dám cản đường tôi, tôi sẽ không nương tay”, hắn gằn giọng.
“Tôi cũng nói điều tương tự với anh”, Arwin đáp.
“Tôi sẽ không làm ngơ trước hành vi vô pháp của anh nữa. Nếu anh muốn chiến, thì tôi sẽ chiều.”
Khi thanh kiếm vừa rút ra, Harrison dường như đã mất hết cả sức lực lẫn ý chí để phản kháng. Hắn khuỵu gối xuống. Nhưng hắn vẫn không chịu bị bắt, vung dao loạn xạ để giữ đội Thánh Kỵ Sĩ ở khoảng cách an toàn.
Arwin liếc nhìn hắn lần cuối, rồi mở một tờ giấy ra và hướng về đám đông đang náo loạn.
“Ngài Lãnh Chúa đã thu hồi mệnh lệnh! Đó là một sai lầm. Không có lý do chính thức nào để truy bắt April nữa!”
Cuộc thương lượng đã thành công. Vì ngài lãnh chúa không thể thừa nhận mình bị lòng tham chi phối, cách duy nhất để giữ thể diện là tuyên bố đó chỉ là một sai sót. Không còn lý do nào để bắt cóc cô ấy dưới danh nghĩa bắt giữ tội phạm. Nhưng vẫn còn một vấn đề: khoản tiền thưởng treo trên đầu April.
“Ai quan tâm chứ?!”, một kẻ trong đám đông hét lên, như thể điều đó là lẽ tất nhiên.
“Miễn là tôi có tiền, tôi có thể thoát khỏi cái kiếp khốn nạn này!”
“Con trai tôi đang bệnh nặng!”
Ai cũng có nỗi khổ riêng. Có người nợ nần đến mức gia đình sắp tan vỡ. Có người có người thân đang vật lộn với bệnh tật. Có người có vợ con đang đói khát. Một khuôn sáo rẻ tiền, nhưng lại là sự thật: Công lý tồn tại dưới muôn hình vạn trạng, tùy theo mỗi con người.
“Nhưng! Đổ tội cho April vì những tội lỗi cô ấy không gây ra là điều vô cùng sai trái.”
“Tôi không quan tâm đúng sai, tôi sẽ chết nếu không có tiền!”
Kêu gọi lương tri chẳng thể thay đổi hiện thực nghiệt ngã. Không có vị thần nào ban mưa tiền từ trời. Người ta vẫn chết vì những lý do bất công.
“Không phải cô đứng về phía chúng tôi sao?!” ai đó gào lên từ đám đông.
“Cô có thể ngẩng cao đầu mà nói rằng việc mình làm là đúng đắn không?”
Nhưng dù đối mặt với sự thật tàn nhẫn ấy, Arwin vẫn không hề lay chuyển.
“April và tôi đều có hoàn cảnh riêng, cũng như tất cả các người. Nhưng các người đang tìm cách lợi dụng một cô bé vô tội chỉ vì tiền. Dù có biện minh bằng hàng triệu lời lẽ, sự thật đơn giản ấy vẫn không thay đổi. Các người có sẵn sàng gánh lấy cái giá của tội lỗi này không?”
Câu nói ấy như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào những cái đầu nóng trong đám đông. Họ bắt đầu tự hỏi: “Chúng ta có sẵn lòng trở thành kẻ tội đồ vì chuyện này sao?”
Từng chút một, cơn cuồng loạn lắng xuống. Khi đã có thời gian suy ngẫm, họ nhận ra sự ghê tởm trong hành động của mình. Và quan trọng hơn, nếu họ vẫn cố cướp lấy kho báu giấu kín hay bắt cóc April, chính họ sẽ là kẻ bị tống vào ngục. Nhưng vẫn còn vài kẻ ngu ngốc không chịu lùi bước.
“Câm mồm lại!”
Một gã đàn ông vung con dao làm bếp và lao tới.
“Nếu mày không im ngay và giao con nhỏ đó ra…”
“Tiến thêm một bước nữa, ta sẽ đâm xuyên tim ngươi bằng thanh kiếm này!”
Lời cảnh báo vang lên như sấm nổ, khiến gã đàn ông khựng lại giữa đường. Hắn đánh rơi con dao và ngã ngồi bệt xuống đất. Sự uy nghiêm của Arwin lan tỏa, gieo rắc nỗi sợ vào đám đông đang mê muội vì lòng tham.
Đến lúc rồi.
Tôi quay lưng lại, bóp mũi và cất giọng:
“Tất cả giải tán ngay! Nếu không ta sẽ tống hết các ngươi vào ngục!”
Giọng bắt chước chuẩn xác của tôi, y hệt tên lính gác da ngăm, đã phát huy tác dụng. Đám đông vừa mới bị đánh thức bởi cảm giác tội lỗi, và khi cơn sốt tham lam tan đi, ý chí của họ trở nên mong manh. Hơn nữa, trong đám đó không thiếu những kẻ từng bị lính gác trừng trị. Tôi đoán vậy.
Một đám đông nổi loạn thì khó kiểm soát khi đã bùng lên, nhưng cũng rất dễ tan rã khi bị gieo rắc nỗi sợ. Từng người một ném vũ khí xuống và bỏ chạy tán loạn. Ngay cả gã đàn ông ngồi dưới đất cũng bò lết vào một con hẻm gần đó.
“Dừng kháng cự vô ích đi. Giờ chỉ còn mình ngươi thôi.”
Thuộc hạ của hắn hoặc đã bị bắt, hoặc đã tháo chạy. Harrison là kẻ duy nhất còn lại.
“Đầu hàng đi. Ngươi không còn cơ hội nào đâu.”
“Đồ khốn!”
Hắn rút ra cuộn giấy trắng lúc trước – vẫn còn giữ bên mình. Chỉ cần mở ra và niệm chú, nó sẽ tạo ra một luồng nhiệt và gió dữ dội.
“Cuộn giấy này được chế tạo đặc biệt. Các ngươi sẽ không cướp được kho báu của Heather đâu. Chính các ngươi mới là kẻ phải chết!”
Hắn dùng răng xé mở cuộn giấy, tay vẫn lăm lăm con dao.
“Bắt hắn!”
Vincent ra lệnh. Đội Thánh Kỵ Sĩ lập tức lao vào. Arwin phóng tới, kiếm giương cao. Hai chị em nhà Maretto bắt đầu niệm chú.
Nhưng không ai kịp cả. Một ký hiệu ma thuật hiện lên trên tờ giấy trắng – điều đó thật tệ. Một khi đã xuất hiện, phép chú sẽ không thể bị ngăn lại. Nó sẽ được thi triển.
Harrison gào lên trong cơn điên loạn và khoái trá, cho đến khi một bàn tay nhợt nhạt bất ngờ vươn ra từ bên cạnh và giật lấy cuộn giấy khỏi tay hắn.
“Thứ ngốc nghếch này!”
April ném cuộn giấy đi xa hết mức có thể. Nó bay lượn trong gió, vẫn còn quấn quanh trục gỗ, rồi biến mất vào hố rác giữa đống phân mục.
“Chạy mau….!”
Tôi hét lên, vừa cúi người né tránh. Một cột lửa khổng lồ phóng thẳng lên trời. Những ngọn lửa đỏ gầm rú, rạch toạc bầu không khí, tung tóe những tia lửa như mưa sao rơi xuống mặt đất. Khi luồng gió nóng rát da dần tan đi, một làn khói đen đặc cuồn cuộn bốc lên từ miệng hố. Thi thoảng lại vang lên tiếng nổ lụi bùng dưới đó, xen lẫn những âm thanh của sự sụp đổ vật lý — như thể lòng đất đang tự mình gãy vụn.

“Thế là xong cái kho báu chôn giấu.”
Một vụ nổ khổng lồ đã vang lên trong không gian ngầm chật hẹp. Nó đã thổi bay tất cả—tiền xu, châu báu, và cả bằng chứng phạm tội.
“Ah… ah…”
Harrison quỵ xuống, sững sờ. Trông hắn như vừa già đi cả chục năm. Đội Thánh Kỵ Sĩ đến muộn để bắt giữ hắn. Hắn không chống cự.
Một luồng gió lạnh thổi qua khu vực. Arwin tra kiếm vào vỏ, bước về phía tôi.
“Chúng ta được cứu rồi”, cô nói, nở nụ cười nhẹ nhõm.
“Hãy cảm ơn con nhóc kia, không phải anh. Nhưng trước hết…”
April đang ngồi bệt trước miệng hố đen đang bốc khói. Cô bé có vẻ quá choáng váng để đứng dậy. Tôi gõ một cú lên đầu cô bằng nắm tay.
“Đánh em làm gì?!”
Cô phản đối. Arwin thì hoảng hốt. Nhưng tôi không thể bỏ qua chuyện này.
“Anh đã bảo em đừng liều lĩnh. Em có thể đã chết vì hành động đó.”
“Nhưng nếu em không làm—”
“Em không cần phải làm anh hùng. Công chúa hiệp sĩ đứng sau lưng em đã đủ để giải quyết chuyện đó.”
Tôi không phải kiểu người ép trẻ con phải đánh đổi mạng sống.
“…Em xin lỗi.”
“Hãy để dành lời xin lỗi cho ông già—sau khi em bị đánh đòn và viết năm mươi bài kiểm điểm.”
“Anh nói như giáo viên ấy, Matthew.”
“Anh dạy bằng gương xấu”, tôi đáp. Tôi là người lớn mà tụi nhỏ nên tránh bắt chước.
“Làm tốt lắm”
Vincent nói khi tiến lại gần.
“Kho báu đã bị phá hủy, nhưng vụ việc này quá công khai đối với Liên Minh Ác quỷ. Chúng sẽ phải trả giá đắt. Tôi cảm ơn các người vì đã giúp đỡ.”
“Gregory sẽ sớm được thả thôi. Giữ ông ấy lại sau chuyện này là không khôn ngoan.”
“Tôi hiểu.”
Tôi đấm thẳng vào mặt Vincent.
Trời âm u. Cú đấm chỉ khiến hắn lảo đảo một chút, nhưng đủ để làm hắn choáng váng. Gã ria mép và tên da ngăm lập tức túm lấy tay tôi và vật tôi xuống đất. Họ làm tốt, nhưng không đủ nhanh. Nếu là tôi của ngày xưa, Vincent đã chết. Hắn sẽ không thể cúi xuống nhìn tôi với vẻ bối rối như thế.
“Anh làm vậy là sao…?”
“Vì đã dùng người vô tội làm mồi nhử”, tôi gằn giọng, mặt áp sát đất.
Arwin khựng lại giữa chừng, lúng túng. April mở to mắt, nín thở.
Thời điểm Vincent xuất hiện quá trùng hợp. Hắn hẳn đã theo dõi Harrison và đồng bọn, nghĩa là hắn có thể cứu chúng tôi sớm hơn. Nhưng thay vào đó, hắn dùng chúng tôi làm mồi để thu hồi kho báu và bắt giữ bọn chúng. Hắn đã đặt April vào vòng nguy hiểm. Ai mà chẳng muốn đấm hắn một cú?
Anh ta nên cảm thấy biết ơn vì tôi đã không làm điều tồi tệ hơn. Nếu ông già mà có mặt ở đây, ông ấy đã đập Vincent đến mức hai con mắt hắn bay khỏi hốc mắt.
“Anh có quyền dùng những phương pháp sáng tạo, nhưng nếu không cẩn thận, anh chẳng khác gì một kẻ phản diện. Luôn ghi nhớ mục tiêu và phương tiện của mình, và đừng bao giờ để chúng lẫn lộn, Chỉ Huy.”
Vincent có thể tự cho mình là chính nghĩa, nhưng nếu hắn làm tổn thương những người tôi quan tâm, tôi chẳng có lý do gì để nương tay. Ngay cả kẻ đồi bại cũng có giới hạn. Tôi chưa đủ trưởng thành để cứ mãi bị chèn ép mà không phản kháng.
“À… xin ngài”, April nói, bám lấy tay áo Vincent.
“Matthew là một kẻ ngốc, một tên háo sắc, một người không thể cải tạo nổi, nhưng anh ấy cũng tốt… hoặc ít nhất là gần giống tốt, chắc chắn không phải xấu, theo nghĩa nào đó…”
“Arwin, làm ơn thay cô bé nói tiếp được không?” tôi hỏi. Tôi không thể nghe thêm được nữa.
“Này, em đang cố giúp anh mà!”
“Em không bênh vực anh; em đang phân tích anh.” Mà phân tích kiểu đó thì chỉ khiến tình hình tệ hơn.
“…Thả anh ta ra”, Vincent nói, vừa xoa má. Gã ria mép và tên da ngăm buông tay tôi, để tôi đứng dậy.
“Đừng có mà được đà lấn tới”
Arwin nói, rồi cũng đấm tôi một cú, trong khi April thì đá vào ống chân tôi. Không công bằng, nhưng cũng chẳng sao. Bị chế giễu như một kẻ ngốc là nghi thức thường nhật của tôi, và vào lúc đó, tôi nên vui mừng vì mọi thứ đã trở lại bình thường. Cứ để một cậu trai ngây thơ làm anh hùng cứu các cô gái vô tội đi.
“Tôi mệt rồi. Chỉ muốn về nhà. Các người cứ đi mà nhận phần thưởng từ Đức Vua đi, cún con.”
“Khoan đã”
Vincent nói. Tôi quay lại và bắt gặp vẻ mặt lạnh lùng, điềm tĩnh thường thấy của hắn.
“Lôi ra thứ anh đang giấu”, hắn ra lệnh.
Hắn tịch thu một chiếc nhẫn ruby từ túi quần tôi, một đồng vàng giấu dưới đế giày, và một viên đá quý nhỏ tôi nhét trong tai.
“Khi nào thì anh…?”
Arwin hỏi, sửng sốt. Tôi biết nói sao đây? Kho báu ở khắp nơi quanh tôi. Tất nhiên tôi phải lấy hết những gì có thể.
Cuối cùng, họ lột sạch đồ tôi. Dù không ai biết, nhưng việc bị sờ mó khắp những chỗ nhạy cảm khiến tôi có chút cảm giác… khó nói. Họ thậm chí còn lộn trái quần áo tôi để kiểm tra.
“Nhớ giữ gìn cẩn thận. Mấy món đó không thể thay bằng tiền lương đâu.”
Tôi mua cả bộ ở tiệm đồ cũ, nên chẳng thể tìm lại được cái giống thế nữa.
Dez cũng bị khám xét. Từ đầu đến cuối hắn đều cau có. Cái khí chất nguy hiểm toát ra từ hắn khiến đội Thánh Kỵ Sĩ phải dè chừng, nhưng họ vẫn cố lục lọi cả giữa râu và tóc hắn.
“Làm ơn chịu đựng đi, tôi van anh đấy”, tôi cứ lặp đi lặp lại. Nếu Dez nổi điên, chắc chắn sẽ có người bỏ mạng.
Khi họ thả chúng tôi ra, mặt trời đã bắt đầu lặn.
“Họ lấy sạch rồi” ,tôi than thở, thở dài.
“Đó là tiền bất chính. Anh tưởng mình có thể lén vớt vài đồng từ đống của ăn cắp à?”
Arwin nói đúng không sai. Tôi chẳng biết đáp lại thế nào. Ngay cả April cũng nhìn tôi bằng ánh mắt khó chịu.
“Đi thôi, chúng ta còn nhiều chuyện phải nói. Về nhà nào.”
“Chưa được đâu”, tôi nói, vỗ vai Dez.
“Xin lỗi, mọi người cứ đi trước. Dez cần tôi giúp việc gì đó. Hắn muốn tôi trả lại số tiền tôi vừa vay gần đây. Đúng không?”
“…”
Dez gật đầu không nói một lời.
“…Vậy thì gặp lại anh ở đó”
Arwin nói, giọng đầy thất vọng, rồi dẫn April rời đi.
“Được rồi, đi thôi… Phải, phải, tôi biết. Đừng nhìn tôi kiểu đó,” tôi nói với Dez.
Chúng tôi đến căn phòng riêng của hắn trong tòa nhà hội mạo hiểm giả và ngồi đối diện nhau trên hai chiếc ghế nhỏ. Tôi đảm bảo không ai nghe lén trước khi có thể thở phào nhẹ nhõm.
“Được rồi, bắt đầu đi”
Tôi ra hiệu. Dez thò tay vào miệng và lôi ra một mảnh giấy ướt sũng. Nước dãi nhỏ tong tong xuống mặt bàn.
“Gớm quá.”
“Chính mày nhét nó vào đấy!” hắn gầm lên, đập đầu tôi xuống bàn.
“Đừng giận. Khi ấy chẳng còn cách nào khác.”
Tôi đã linh cảm chuyện này sẽ xảy ra khi Vincent xuất hiện. Tôi tháo trục ra khỏi cuộn giấy, gấp gọn lại rồi nhét vào miệng Dez ngay trước khi Vincent tiến đến. Tôi biết hắn sẽ cho người khám xét tôi, và với danh tiếng là kẻ hay châm chọc, việc tôi im lặng sẽ khiến hắn nghi ngờ. Nhưng Dez vốn nổi tiếng là kẻ ít nói và khó gần, nên chẳng ai ngờ hắn lại giấu bí mật. Những lúc như thế, ta phải biết dựa vào bản chất của mình.
“…Sau tất cả ồn ào về kho báu giấu kín, thứ duy nhất chúng ta có được là một cuộn giấy”, hắn càu nhàu, lau nước dãi rồi bắt đầu xem xét cuộn giấy.
“Bên trong này là gì… một con gulon à?”
Gulon là một loài chồn lửng có bộ lông đen nâu. Nó ăn nhiều đến mức, nếu không kiểm soát, có thể phá sạch cả một sườn núi. Những con lớn có thể to bằng một căn nhà, nhưng vì thế mà chúng chậm chạp. Chúng cũng nhút nhát và dễ thuần hóa, nên rất dễ bị hạ gục. Cùng lắm chỉ là quái vật hạng hai sao.
Sức mạnh của quái vật phản ánh trực tiếp vào giá trị thị trường của cuộn giấy. Với con gulon này, chúng tôi may ra kiếm được hai mươi hay ba mươi đồng vàng.
“Chúng ta lỗ rồi.”
“Chưa hẳn”, tôi nói, nhếch mép cười.
“Cứ làm theo tôi.”
*****
Tối hôm đó, tôi lẻn ra khỏi nhà Arwin và tiến vào đường hầm ngầm bên dưới thị trấn. Dez đã chờ sẵn với vẻ mặt cau có. Hắn mang theo một chiếc rìu cán ngắn. Đó là Số 16. Dez dùng nó như một thanh đoản kiếm, nhưng với những kẻ từng là nạn nhân của hắn, thì chẳng khác gì một chiến phủ.
“mày đến muộn” hắn nói.
“Xin lỗi. Tôi phải mất chút thời gian để chuồn ra.”
Arwin cứ níu tôi mãi, cái cô gái ích kỷ ấy.
“Bắt đầu đi”, tôi nói.
Dez nhắm mắt lại và mở cuộn giấy. Ai cũng có thể triệu hồi quái vật. Ký hiệu trên giấy phát sáng mờ mờ, và chỉ trong vài khoảnh khắc, một con chồn lửng khổng lồ hiện ra. Đúng là một con gulon. Nó bắt đầu đứng dậy, hơi thở nồng nặc mùi kim loại, nhưng rồi khựng lại; đầu nó đã đụng trần đường hầm.
“Làm đi.”
“Đừng ra lệnh cho tao”
Dez càu nhàu, lạch bạch bước tới bằng đôi chân ngắn rồi nhảy lên lưng gulon. Con quái vật thậm chí chẳng nhận ra hắn đang trèo lên và bám lấy lớp lông. Thế là tốt nhất. Khi đến cổ họng gulon, hắn vung Số 16 lên và chém xuống như đóng một chiếc đinh. Chỉ một nhát là đủ để cắt đứt điểm yếu chí mạng. Con gulon đổ gục về sau, không phát ra một tiếng động nào.
“Được rồi, xin mời ngài Dez — người bạn thân yêu vĩnh cửu, người cha nhân từ, người chồng trung thành — hãy ra tay”
Tôi trịnh trọng tuyên bố. Phần thưởng cho màn ca ngợi ấy là một cú thúc cán Số 16 thẳng vào bụng tôi.
“Đồ lươn lẹo”, hắn lầm bầm.
Tôi nói gì sai sao?
Hắn bắt đầu rạch bụng con gulon. Đột nhiên, mắt hắn trợn tròn. Tôi cảm thấy tiếng cười đang sôi lên trong lồng ngực.
“Trúng mánh rồi.”
Của cải tuôn ra từ bụng con quái vật.
Ngay khoảnh khắc chúng tôi phát hiện kho báu giấu dưới lòng đất, tôi đã biết có điều gì đó không ổn. Người ta nói kho báu của Heather trị giá một triệu đồng vàng — mà số đó rõ ràng chưa tới một nửa. Phải còn chỗ nào khác cất giấu nữa, nhưng mọi nơi khả dĩ đều đã bị lục tung. Tôi liền nhớ lại chuyện xảy ra trong vụ Bạo Loạn Quái Vật: những con quái sống chui ra từ bụng con lindworm, và nó được triệu hồi bằng một cuộn giấy. Tôi chợt nhận ra — người ta có thể nhét bất cứ thứ gì vào trong một cuộn triệu hồi.
Có nhiều quái vật bị phong ấn trong cuộn giấy, nhưng chỉ có con này là có cái bụng đủ lớn để chứa cả núi đồ. Nơi tốt nhất để giấu một cái cây là trong rừng.
“Họ nhồi nhét con này đến căng bụng”
Dez lẩm bẩm, ngạc nhiên trước lượng vàng trào ra từ bụng gulon. Ngay cả thời còn làm mạo hiểm giả, chúng tôi cũng chưa từng kiếm được món hời nào như thế này — mà nếu có, cũng phải chia bảy phần.
“Ừ, đống tiền này suýt nữa thì biến thành phân thật rồi.”
Tôi vốc một nắm đồng vàng và tung lên không. Tiền rơi như mưa.
Chúng rơi trúng đầu tôi, nhưng tôi vui đến mức chẳng thấy đau. Tất cả những rắc rối vừa qua đều xứng đáng.
“Và chúng ta sẽ chia đều tất cả số này!”
Người ta nói kho báu của Heather trị giá một triệu đồng vàng, nhưng ở đây chỉ có khoảng một nửa. Dù vậy, năm trăm ngàn vẫn là con số khổng lồ. Chia đôi, tôi và Dez mỗi người được hai trăm năm mươi ngàn. Đủ để chế tạo thuốc giải cho Arwin mà vẫn dư dả. Dez cũng không cần phải nai lưng làm việc cho hội mạo hiểm giả nữa. Hắn có thể sống một cuộc đời tốt đẹp hơn bên vợ con.
“Ý anh là ba người chúng ta”, một giọng nói vang lên phía sau. Tôi quay phắt lại và méo mặt khi thấy kẻ vừa xuất hiện.
Natalie. Cô ta mặc bộ đồ du hành giống hệt lần đầu tiên xuất hiện ở đây.
“Tôi đã tự hỏi anh và Dez lén lút đi đâu giữa đêm. Giờ thì tôi hiểu rồi”
Cô ta nói, vừa cúi xuống nhặt một viên ngọc.
“Đây chính là kho báu chôn giấu mà ai cũng đồn đại. Tất nhiên, tôi không phải quái vật, nên sẵn sàng chia đều với hai người.”
“Cô biến mẹ đi!”
Cô ta chẳng làm gì để xứng đáng với nó, vậy mà lại định ngang nhiên bước vào và chia phần?
“Tôi từng cứu mạng anh, đúng không?” cô ta nói, đầy tự mãn. “Và anh biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi để lộ bí mật này rồi đấy.”
Rõ ràng, Liên Minh Ác quỷ đang nhắm đến kho báu này. Và với số lượng như thế, các thế lực ngầm khác cũng sẽ thèm khát. Từng tên tội phạm trong thị trấn sẽ đổ xô truy lùng chúng tôi.
Dez chỉ gật đầu, vẻ cam chịu. Tôi thì chỉ muốn bịt miệng cô ta mãi mãi, nếu có thể. Nhưng chúng tôi đang ở dưới lòng đất, và với sự bất ổn vốn có của mặt trời tạm thời, rất có thể chính tôi mới là kẻ bị bịt miệng trước.
Cuối cùng, chúng tôi đồng ý chia kho báu thành ba phần. Natalie chỉ chọn những viên ngọc dễ bán, nhét chúng vào cái túi vải cũ sờn rách của mình, rồi chuồn đi như một con chồn hoang. Chúng tôi quyết định giấu số đồng vàng còn lại ở cuối đường hầm ngầm cũ.
“Con khốn đó. Tôi thề có ngày sẽ bóp cổ nó cho đến khi tắt thở.”
“Hai người lúc nào cũng cãi nhau.”
“Chỉ vì cô ta cứ kiếm chuyện với tôi.”
Từ lúc cô ta xuất hiện, chẳng có gì tốt đẹp xảy ra. Cô ta luôn mang theo một cơn bão chết tiệt.
Sáng hôm sau, tôi đến hội mạo hiểm giả để gặp Dez. Tôi muốn hỏi cách quy đổi kho báu giấu kín kia. Đồng vàng thì dễ, nhưng còn nhiều tranh vẽ và đồ nghệ thuật khác mà nếu không cẩn thận khi bán, chúng có thể bị lần ra dấu vết dẫn đến tôi.
Chưa kịp bước vào tòa nhà, tôi đã thấy hội náo loạn. Một đám đông khổng lồ tụ tập quanh đó — không chỉ mạo hiểm giả mà cả dân thường đi ngang cũng dừng lại.
Với chiều cao vượt trội của mình, tôi lập tức nhìn ra nguyên nhân của sự xôn xao.
Ông già đã trở lại. April ôm chặt lấy ông, nước mắt rơi lã chã. Cuộc thương lượng của Arwin hẳn đã thành công. Và Vincent đã giữ lời.
“Ôi! Matthew”
April reo lên khi thấy tôi. Lần này cô bé chạy đến ôm tôi. “Ông ơi! Ông đã về rồi…”
“Tôi mừng cho em” – tôi nói, xoa đầu cô bé.
Rồi tôi quay sang ông già. Với vẻ ngượng ngùng, ông thừa nhận: “Nghe nói cậu đã làm rất nhiều cho chúng tôi.”
“Ở nhiều phương diện.”
Chúng tôi đã chăm sóc cháu gái ông và thậm chí còn giúp ông thoát khỏi cảnh giam cầm. Chúng tôi đúng là những con hải ly chăm chỉ.
“Chúng ta cần nói chuyện”, ông nói, rồi dẫn tôi lên mái của tòa nhà hội. Ông đuổi hết mọi người ra ngoài, chỉ còn lại tôi và ông. Lơ đãng, tôi nghĩ nếu ông muốn giết tôi thì đây là cơ hội lý tưởng. Dù sao thì đây cũng là mái của một tòa nhà ba tầng. Nhưng với cơ thể tôi, cú ngã đó chưa chắc đã đủ để kết liễu.
“Cảm ơn cậu vì tất cả những gì đã làm. Tôi thật sự biết ơn”, ông nói, cúi đầu thật sâu. Tôi khó mà tin được một ông già kiêu ngạo như thế lại có thể làm điều đó.
“Nhờ vậy mà tôi có thể nhìn thấy gương mặt cháu gái mình lần nữa.”
“Ông có thể chứng minh lời nói bằng hành động. Chỉ cần một ngàn đồng vàng là đủ”
Rồi tôi sẽ tha thứ cho việc ông từng định chơi tôi và loại bỏ Donald.
“Thế này phải đủ rồi,” ông nói, ném cho tôi một xấp thẻ trắng.
“Tôi không hứng thú với trò chơi bài.”
“Đây là thẻ ma thuật; tôi mua được ở chợ đen. Hơi khó dùng một chút, nhưng tôi nghĩ cậu sẽ làm chủ được. Tôi đã ghi chú cách sử dụng, nhớ đọc kỹ.”
Tôi tự hỏi mấy thứ này sẽ giúp tôi thế nào. Mà thôi, tôi chưa bao giờ từ chối quà tặng — miễn là không phải quà mang bệnh hoa liễu.
“À này, hỏi vu vơ thôi: Cậu từng nghe về ‘Cây Kéo của Lombardi’ chưa?”
Randy đã mò đến chỗ giấu bí mật của ông già để tìm “Cây Kéo của Lombardi”. Điều đó cho thấy ông già hoặc từng sở hữu nó, hoặc có liên hệ nào đó với món đồ ấy.
“À, April cũng từng nhắc đến chuyện đó. Con bé nói có một giáo sĩ đang tìm kiếm nó”, ông nói, cau mày. “Cảm giác như tôi đã nghe cái tên đó ở đâu rồi, nhưng không nhớ nổi. Ít nhất thì tôi không nhớ từng có thứ gì mang tên như vậy.”
“Tôi hiểu rồi.”
Ông ta không có vẻ đang nói dối hay giả vờ. Ông thực sự không biết. Tôi cũng đã hỏi Nicholas, nhưng cái tên ấy chẳng gợi lên điều gì trong đầu hắn. Manh mối của tôi đang dần cạn kiệt.
“Vậy chuyện bên phía ông thế nào?”
“Kho báu chôn giấu đã bị phá hủy, nên họ chẳng còn lý do gì để giam tôi nữa. Tôi còn moi được cái đầu của tên cầm đầu và một khoản bồi thường từ tay ngài lãnh chúa bẩn thỉu kia.”
“Còn hội mạo hiểm giả thì sao? Tôi nghe nói họ định cử một hội trưởng mới.”
“Chuyện đó bị hủy rồi, tất nhiên”, ông cười toe toét. Triều đại khủng bố của ông già sẽ tiếp tục. Donald đã chết một cách vô ích. Tôi thấy tội cho hắn, nhưng mặt khác, tôi cần ông già sống đủ lâu để April trưởng thành và có thể tự bảo vệ mình.
“Nhưng đó đâu phải tất cả những gì ông muốn nói, đúng không? Ông muốn nói về kho báu bí mật của riêng mình, phải không?”
Ông ta sẽ không dẫn tôi đến nơi kín đáo thế này chỉ để cảm ơn rồi tiễn tôi đi.
“Đừng lo,” tôi trấn an ông, “Tôi không lấy một đồng nào cả. Tất cả đều thuộc về April.”
Một vài đồng đã bị nung chảy, nhưng đó là do Randy, gã giáo sĩ. Và số lượng ít đến mức chẳng đáng kể.
“…Cậu đã thấy gì dưới đó?” ông già hỏi, ánh mắt hẹp lại đầy nguy hiểm.
“Sao vậy, ông giấu mấy cuốn sách khiêu dâm ở đó à?”
“Tôi biết chuyện của cậu rồi. Cậu đã vo tròn bức thư và ném nó đi sau khi đọc, đúng không?”
Hẳn ông nghe từ Ralph. Tôi biết mình nên bịt miệng thằng nhóc ngu ngốc đó từ sớm.
“Thật ra thì khá ấn tượng”, tôi nói.
“Cha của April đã viết cho ông một bức thư, giao phó đứa con gái bé bỏng của mình, làm điều mà ông ấy cho là tốt nhất cho con bé. Tôi đã suýt khóc ngập mặt khi đọc nó.”
“Nói thật đi, đồ khốn!”, ông già quát, đập mạnh tay lên lan can trên mái nhà. Tôi đã hy vọng giữ chuyện này trong im lặng. Chẳng lẽ ông ta muốn bịt miệng tôi đến thế?
Tôi nhún vai.
“Ông muốn tôi nói gì? ‘Ồ, thì ra Elton — người giữ kho — chính là cha của April à’?”
Ông thở dài.
“Cậu đã nói với con bé chưa?”
“Chưa một lời. Tôi từng nghe ông ấy là một học giả lỗi lạc, bị đắm tàu khi đang đi nghiên cứu… nhưng đó không phải sự thật, đúng không?”
Ở cái thị trấn đầy những kẻ ngu ngốc này, chẳng có nền kinh tế nào đủ sức nuôi một người làm học thuật. Ai có đầu óc và khát vọng nghiên cứu thì sẽ tìm đến kinh đô hoàng gia. Hơn nữa, bọn xã hội đen quanh đây đâu có đủ mưu mẹo để giấu vàng bên trong một con quái vật bị phong ấn trong cuộn giấy ma thuật — nhưng có lẽ hội trưởng của hội mạo hiểm giả, người am hiểu về quái vật và phép thuật, thì có.
“Đúng vậy”, ông già nói, cau có đầy cay đắng. “Tên hắn là Morris. Và Morris sinh ra đã là một tên tội phạm.”
Cha của April, Morris, ban đầu chỉ là một người hầu thuê cho một thương nhân nào đó, cho đến khi hắn sa vào cờ bạc, rồi ăn cắp tiền của chủ và bỏ trốn. Hắn có thể đã rơi xuống tận đáy xã hội, nhưng đầu óc hắn thì sắc sảo. Morris gia nhập một tổ chức tội phạm thuộc liên minh lớn hơn gọi là “Liên Minh Ác quỷ”. Họ đánh giá cao khả năng buôn lậu và tính toán của hắn. Nhưng rồi một ngày, hắn tình cờ gặp Flora — người sau này trở thành mẹ của April — khi cô đến thăm thị trấn, và hắn đã phải lòng cô.
Morris thề sẽ cải tà quy chính, cố gắng đoạn tuyệt với thế giới tội phạm.
Nhưng thế giới tội phạm không dễ buông tha. Chúng cử người truy sát Morris. Hắn không thể mang theo đứa con gái nhỏ trong cuộc trốn chạy, nên đã để April lại cho ông già, rồi cùng vợ bỏ trốn.
“Ông không bảo vệ được họ sao?”
“Tôi đã cố thương lượng cho hắn, nhưng hắn dính vào những chuyện quá bẩn thỉu. Cùng lắm thì họ chịu tha cho vợ và con gái hắn.”
Thực ra, Morris hy vọng sẽ gây dựng cuộc sống mới ở một thị trấn khác, chờ mọi chuyện lắng xuống rồi đón April về sau.
“Nhưng rồi dịch bệnh ập đến và cướp đi Flora, chỉ trong chớp mắt. Tôi tưởng Morris cũng chết rồi, nhưng hóa ra hắn vẫn sống — và đang làm người giữ kho bí mật cho một thành viên cấp cao của Liên Minh Ác quỷ.”
Dù là bị ép buộc hay vì tuyệt vọng sau cái chết của vợ, chúng tôi không thể biết chắc. Nhưng Morris đã đổi tên thành Elton và tìm được một vị trí an toàn với vai trò người giữ kho báu bí mật.
“Tôi ngạc nhiên là ông lại để hắn làm vậy.”
Người đàn ông ấy gián tiếp gây ra cái chết của con gái hội trưởng và bỏ rơi cháu gái mình. Biết tính ông già, tôi tưởng ông đã giết hắn từ lâu.
“Tin tôi đi, tôi đã muốn làm thế. Nhưng gây chuyện với Liên Minh Ác quỷ thì phải trả giá đắt. Và dù sao đi nữa, hắn vẫn là cha của April.”
Vậy là ông già buộc Morris phải hứa sẽ không bao giờ tiếp cận April hay tiết lộ thân phận thật. Tôi hiểu ý ông. Trong tâm trí April, cha cô là một học giả danh tiếng, và ông không muốn sự thật tàn nhẫn phá vỡ ảo tưởng ấy. Morris giữ im lặng và tiếp tục quản lý kho báu bí mật của bọn xã hội đen.
“Nhưng rồi tôi nhận được tin từ hắn cách đây hai tháng.”
Heather lâm bệnh nặng, chẳng còn sống được bao lâu. Đó là cơ hội để Morris lấy kho báu và bỏ trốn. Lần này, hắn muốn làm lại cuộc đời, sống tử tế bên con gái. Hắn cầu xin ông già cho gặp April.
“Nhưng mọi chuyện không thành.”
Kế hoạch bị rò rỉ, và Harrison — thuộc hạ của Heather — đã bắt được hắn. Thay vì trốn thoát cùng kho báu, hắn bị tra tấn để khai ra vị trí cất giấu.
“Chúng còn tiêm thuốc vào người hắn để ép cung, nhưng hắn vẫn không hé miệng.”
Chính trong thời gian đó, vụ Bạo Loạn Quái Vật xảy ra, mọi thứ rơi vào hỗn loạn. Morris trốn khỏi phòng giam. Dĩ nhiên, Liên Minh Ác quỷ phát điên lên vì mất hắn. Ông già cũng cố tìm hắn, nhưng với hàng tá trách nhiệm sau vụ bạo loạn, ông chỉ làm được đến thế.
Và một phần là vì Liên Minh Ác quỷ cũng đang theo dõi ông.
“Bằng cách nào đó, chúng biết tôi từng gặp hắn. Thế nên tôi mới bị nghi ngờ”
Tôi nhớ lại lúc chúng tôi tra hỏi tên côn đồ cấp thấp tên Rob. Hắn nói có tin đồn rằng người giữ kho là một mạo hiểm giả từng thân thiết với ông già. Ai đó đã nhầm, tưởng ông là hội trưởng. Trớ trêu thay, chính sự nhầm lẫn đó khiến April bị nhắm đến, chỉ vì cô là cháu gái của ông.
“Lần cuối tôi nghe tin từ hắn là ngay sau vụ bạo loạn. Hắn trà trộn vào nhóm ‘Liên Minh Quý Ông’ và đang tìm cơ hội hành động, nhưng rồi… chẳng có tin tức gì nữa.”
Tôi từng nghĩ hắn đã rời khỏi thị trấn, nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy hắn đã thoát.
“Ông nghĩ hắn chết rồi sao?”
“Có lẽ”, ông già nhún vai.
“Dù bao chuyện đã xảy ra gần đây, hắn vẫn không xuất hiện. Và Liên Minh Ác quỷ cũng chưa bắt được hắn. Tôi đoán hắn đã vướng vào rắc rối nào đó.”
Không ai để tâm đến mấy gã quý ông lang thang ngoài phố. Khi họ chết, xác bị lặng lẽ ném vào ngục tối, chẳng ai nhắc đến nữa.
“Nhưng biết đâu đấy. Nếu cậu thấy hắn, báo cho tôi. Cậu có vẻ giỏi tìm mấy thứ giấu kín”, ông nói.
Vậy là đầu mối đã nguội lạnh. Có lẽ ông già cũng đã từ bỏ hy vọng.
“Thế Morris trông như thế nào?” Tôi không thể tìm hắn nếu không biết mặt mũi ra sao.
“Như thế này”, ông nói, giơ ra một bức tranh chưa hoàn thiện.
Đó là hình một cặp vợ chồng trẻ. Người phụ nữ đang bế một bé gái. Ít nhất thì tôi nhận ra cô bé.
“Tôi từng thuê họa sĩ vẽ chân dung gia đình họ, nhưng rồi mọi chuyện bất hạnh xảy ra, tranh bị bỏ dở. Đây là tất cả những gì tôi còn lại về ba người họ.”
Bức chân dung gia đình chỉ là một bản phác thảo. Không có bức tranh hoàn chỉnh.
“Vậy đây là cha của April, hả?” Tôi nhìn chằm chằm vào bức vẽ. Tôi nhận ra gương mặt người đàn ông.
“…Ông nói chúng tiêm thuốc cho Morris trước khi hắn trốn thoát?”
“Đó là ‘Release'”, ông già nhổ nước bọt.
“Với liều lượng chúng tiêm, hắn chắc đã suy sụp nặng. Cậu có thể nhận ra — sẽ có những vết sạm trên cổ tay và sau gáy.”
Không thể nào.
Từ đầu đến cuối… ngay từ lúc bắt đầu, tôi đã phạm một sai lầm nghiêm trọng.
Hắn chính là gã quý ông lang thang ngoài phố đã chết vì biến chứng sau khi tôi dùng hắn làm vật thử nghiệm cho dung dịch phân hủy — thứ sẽ xóa bỏ vết đen trên người Arwin. Đó chính là Morris, cha của April. Hắn đã cố nói điều gì đó trong cơn hấp hối. Có lẽ là tên con gái mình.
“Có chuyện gì sao?”
“Không có gì”, tôi đáp, cố giấu đi cú sốc vừa nhận ra.
“Cứ sống lâu đi. Và đừng có mà dây dưa với mấy cô gái trẻ.”
Ông có thể là một lão già đồi bại, nhưng ông là tất cả những gì cô bé còn lại.
“Lo chuyện của mày đi, đồ lắm lời”, ông gắt.
Tôi đang bước xuống cầu thang thì một cơn mệt mỏi ập đến như sóng tràn, khiến tôi phải ngồi phịch xuống và ngửa đầu ra sau. Một tiếng rên khẽ thoát khỏi môi.
Tôi không cố giết hắn, nhưng liều lượng tôi đưa ra lớn đến mức chẳng khác gì buông tay. Tôi không quan tâm hắn sống hay chết. Dù có nói gì đi nữa, tôi cũng không thể biện hộ cho việc mình đã làm.
Mỗi khi April nhắc đến cha mình, tôi chưa từng cảm nhận được chút oán hận nào từ cô bé. Dù ông ta chỉ còn là cái bóng của chính mình, dù đã sa ngã đến mức làm việc cho bọn xã hội đen, ông ta vẫn là cha của cô. Tôi không thể nói liệu cuộc đoàn tụ của họ sẽ là một khoảnh khắc hạnh phúc hay bi kịch. Nhưng giờ thì chẳng còn khả năng nào nữa. Và tất cả là vì tôi.
Tôi đã gây ra một điều khủng khiếp với April. Thế nhưng, tôi cũng không bị giày vò bởi cảm giác tội lỗi.
Tôi đã phạm nhiều tội lỗi trong đời. Tôi từng kết liễu những người vô tội — những kẻ chỉ tình cờ đứng sai chỗ sai thời điểm — để bảo vệ Arwin. Trước cả khi gặp cô ấy, tôi đã cướp đi nhiều sinh mạng. Giờ thì đã quá muộn để quay đầu. Và người đàn ông đó, tôi chưa từng thực sự trò chuyện với hắn. Đúng là tôi đã sững sờ khi biết hắn là cha của April, nhưng sự thật ấy chẳng khuấy động được gì trong lòng tôi. Tôi hoàn toàn bình thản. Phần tăm tối trong tôi cười khẩy, vì mạng sống của người khác chẳng có nghĩa lý gì với hắn.
Nghiệp báo có thể sẽ đuổi kịp tôi dưới địa ngục, nhưng ở trần gian này, chẳng ai biết cả. Ngay cả ông già cũng không nhận ra phản ứng của tôi. Nếu tôi không hé môi, bí mật này sẽ theo tôi xuống mồ. Và từ khoảnh khắc tôi gắn số phận mình với Arwin, cuộc đời tôi đã lao thẳng về phía địa ngục.
Tôi đang đi trên con đường một chiều dẫn đến Tartarus — tầng sâu nhất của địa ngục.
“Anh đây rồi”
Arwin nói khi tôi quay lại tầng một. Cô đã rời đi từ sáng để đến Đại Hầm Ngục, nên tôi không ngờ vẫn thấy cô ở đây.
“…Anh có chuyện gì sao?” cô hỏi. Tôi tưởng mình đã che giấu được, nhưng cô đã nhìn thấy điều gì đó trong ánh mắt tôi.
“Chỉ là bực mình thôi. Ông già giao cho tôi một nhiệm vụ khó chịu”, tôi đáp. Tôi không nói dối — chỉ là tôi biết mình sẽ không bao giờ hoàn thành được nó.
“Anh cần giúp không?”
“Không, chuyện này chẳng liên quan gì đến đánh đấm.”
“Anh nghĩ tôi chỉ giỏi mỗi việc đánh nhau thôi à? Khi nào đầu óc anh có vấn đề, cứ nói với tôi. Miễn là không phải chuyện tiền bạc.”
Tôi không thể nói ra vấn đề của mình. Sám hối chỉ là cách đẩy gánh nặng sang vai người khác. Tôi không có quyền trốn tránh tội lỗi của mình.
Thay vào đó, tôi hỏi cô có quên gì không. Đáp lại, cô kéo tôi vào góc phòng, kiểm tra kỹ để chắc chắn không ai nghe thấy.
“Chuyện về ‘Kẻ Đau Khổ’.”
“Em tìm ra hắn rồi?” tôi hỏi, cố gạt đi bầu không khí u ám đang bao trùm.
“Tên thì khác, nhưng hắn khớp với mô tả. Trùng khớp hoàn toàn với hồ sơ của Donald. Em nghĩ đó là người chúng ta cần tìm.”
Vậy là hắn đã ẩn mình giữa các mạo hiểm giả.
“Hắn ở đâu?”
“Trong Đại Hầm Ngục. Ít nhất thì… thi thể hắn ở đó.”
Đó là lúc tôi hiểu vì sao Arwin lại thấy khó khăn khi nói ra điều này một cách công khai.
“Người ta tìm thấy hắn chết trong thị trấn mấy hôm trước, máu chảy từ đầu”, Arwin giải thích.
“Theo lời nhân chứng, kẻ tấn công là một cô gái trẻ. Nghe như họ vừa chia tay và cãi nhau.”
“Ở đâu?”
“Gần Xe Ngựa Vàng, em nghĩ vậy.”
Tôi nhớ đến gương mặt của một gã trai trẻ. Một kẻ ngu ngốc từng cố hủy hoại tôi và đã phải trả giá rất nhanh.
“Thi thể bị ném xuống Đại Hầm Ngục, và bạn bè hắn đến lấy lại đồ đạc. Nhưng rồi họ cũng bị phát hiện chết trong đó.”
“…Anh hiểu rồi.”
“Không rõ hắn thực sự bị giết hay chỉ bị ai đó bịt miệng, nhưng đó là điểm kết của mọi manh mối. Chúng ta không biết liệu còn Kẻ Đau Khổ nào đang ẩn mình.”
Tôi nhớ lại giọng nói của một người phụ nữ:
“Tôi sẽ lo phần dọn dẹp.”
“Phục vụ xuất sắc, từ đầu đến cuối.”
“Hửm?”
“Anh chỉ đang lẩm bẩm thôi”, tôi nói, nở một nụ cười giả tạo. “Cẩn thận nhé. Không biết hắn còn đồng bọn nào đang rình rập không.”
Arwin gật đầu, vẻ nghiêm trọng.
“Còn một chuyện nữa — về Cây Kéo của Lombardi mà anh từng nhắc.”
“Em tìm ra rồi à?”
Ngay cả ông già cũng không biết, nên tôi tưởng chúng tôi đã lạc lối. Nhưng Arwin rút ra một cuốn sách cũ phủ đầy bụi.
“Như anh biết, họ tôn thờ một Thánh Thư. Tôi tìm thấy một đoạn nhắc đến nó trong phần ngụy thư.”
Khi biên soạn kinh điển cho bất kỳ vị thần nào, không chỉ riêng tên thần mặt trời bịp bợm kia, những câu chuyện và văn bản không thể xác minh sẽ bị loại bỏ. Những mảnh vụn từng được cho là thuộc về tôn giáo nhưng bị đẩy ra ngoài lề được gọi là ngụy thư hoặc dị giáo.
“Nói đơn giản, đó là những giáo lý bị coi là tà đạo. Nhiều tín đồ và giáo sĩ còn chẳng biết đến chúng, nên việc lần ra được đoạn này khá vất vả”, cô tiếp tục. Điều đó lý giải vì sao ngay cả Nicholas cũng không biết.
Arwin lại nhìn quanh một lần nữa, rồi hạ giọng: “Nói ngắn gọn, cây kéo là một thánh tích khác có dính máu của thần mặt trời, giống như Tấm Khăn Liệm của Bereni.”
Sau cái chết của Bereni, tấm khăn bị xé vụn và phát tán khắp nơi. Một mảnh nhỏ nằm trong cơ thể Arwin.
“Theo ngụy thư này, tấm khăn bị cắt bởi một kẻ tham lam sau khi Bereni chết. Kẻ đó chính là Lombardi.”
Khi cắt vải, máu của tên thần mặt trời — thứ máu như phân mèo — đã nhiễm vào cây kéo. Nhưng hầu hết mọi người chưa từng nghe đến chuyện này vì nó không nằm trong Thánh Thư.
“Giống như tấm khăn, cây kéo mang theo một quyền năng bí ẩn. Nhưng khác với khăn liệm, vết máu này chỉ mang đến tai họa và bất hạnh.”
Một người cầu mong có vợ đẹp, nhưng ngay ngày cưới, cô dâu đã đâm chết anh ta. Một người khác dùng cây kéo để trở nên giàu có, nhưng một năm sau, trong một tai nạn, cây kéo cắm vào cổ hắn và giết chết hắn. Có kẻ ước được trẻ mãi, nhưng khi đạt được điều đó, tất cả những người xung quanh hắn đều già đi. Một người khác ước được làm vua, nhưng đất nước hắn bị xâm lược và hắn bị xử tử.
Cây Kéo của Lombardi có thể biến điều ước thành hiện thực — nhưng cái giá phải trả là tất cả.
“Nghe quen quen.”
“Tôi từng nghĩ đó chỉ là truyện cổ tích, nhưng giờ thì không thể xem nhẹ được nữa.”
Cô đặt tay lên ngực. Tấm Khăn Liệm của Bereni từng chỉ là truyền thuyết, một câu chuyện hoang đường, cho đến khi nó xuất hiện như một vật thật, có quyền năng thật, và đã cứu mạng Arwin.
“Ai biết được họ sẽ làm gì nếu có được thứ đó. Làm ơn hãy cẩn thận.”
“Anh sẽ cẩn thận.”
Tôi tiễn Arwin đến Đại Hầm Ngục rồi quay về nhà. Thị trấn hoàn toàn yên bình. Nhưng chỉ cần cào nhẹ lớp vỏ bề mặt, sẽ thấy một vũng lầy của tội lỗi và tà ác. Người ta sẵn sàng bán đứng một cô gái ngây thơ trong sáng cho lũ ác nhân chỉ để đổi lấy vài đồng xu. Những người đi dạo trên phố mang vẻ mặt hiền lành, và sẽ không có con quái vật nào trồi lên từ Thiên Niên Kỷ Dưới Ánh Mặt trời Đêm trong thời gian tới. Nhưng cái ác tầm thường của loài người vẫn tồn tại. Chỉ cần một cú châm nhẹ là đủ gây ra một cuộc Bạo Loạn Quái Vật khác. Chúng tôi phải cẩn thận, nếu không người tiếp theo bị nghiền nát sẽ là tôi, Arwin, hoặc một người dân vô tội nào đó đang đi dạo trên phố.
*****
Khi tôi về đến nhà, cửa đã mở dù tôi đã khóa trước khi đi. Tôi nghĩ là trộm, nhưng cửa không bị phá. Chỉ có tôi, Arwin và ông chủ nhà có chìa khóa. Tôi vẫn giữ chìa. Ông chủ nhà sẽ không đột nhập khi tôi vắng mặt. Vậy là ai? Tôi siết chặt mặt trời tạm thời và cẩn thận mở cửa.
Không có dấu hiệu hư hại. Nhưng tôi cảm nhận được có người bên trong. Họ đang ở trong bếp. Tôi rón rén tiến lại gần, từng bước thận trọng. Một linh cảm xấu dâng lên theo từng nhịp tim. Tôi đã giấu “nguyên liệu” làm kẹo trong bếp. Đó là bí mật lớn nhất của Arwin. Nếu ai phát hiện ra, cô ấy sẽ bị hủy hoại. Tôi đã giết vài người từng biết bí mật đó. Không quan trọng họ là ai.
Tôi lặng lẽ tiến tới. Có tiếng lục lọi. Đúng như tôi đoán, kẻ đột nhập đang ở trong bếp. Họ đã mở tủ dưới và đang cúi xuống, nhìn vào bên trong.
“April.”
Cô gái tóc bạc giật mình hoảng hốt. Cô quay lại chậm rãi, gương mặt tái nhợt vì tội lỗi. Trên tay cô là một cái tô trộn. Ngón tay dính đầy bột, và tấm khăn tôi phủ lên tô đã bị gỡ ra.
“Ông già không dạy em rằng đột nhập vào nhà người khác là hành vi vô cùng bất lịch sự sao?”
Tôi trách. April như héo rũ dưới áp lực.
“À, em quên là Arwin từng đưa em chìa khóa, nên em quay lại để trả, nhưng rồi em tò mò về mấy món ngọt của anh hôm trước, nên…”
Cô bắt đầu tuôn ra một tràng lý do, nhưng chẳng câu nào lọt vào đầu tôi. Chúng vào tai này, ra tai kia.
“Em không cố ý mở đâu, nhưng kẹo của anh ngon quá, em không kiềm được, và…”
Gương mặt cô bé đỏ bừng, rực lên vì phấn khích, trong khi đầu tôi thì mỗi lúc một lạnh đi, tê dại và vô hồn.
Lẽ ra tôi nên cẩn thận hơn với cô bé. April quá tò mò, đến mức nguy hiểm cho chính mình. Nhiều khả năng lướt qua trong đầu tôi, nhưng tôi đã biết rõ đáp án đúng là gì.
“À… mấy món ngọt… em…”
Tôi không nói gì. Tôi biết im lặng sẽ hiệu quả hơn.
“Em xin lỗi, chỉ là—”
“Đồ hư hỏng.”
Một tia nắng rực rỡ chiếu xuống lưng April đang run rẩy. Đó là chi tiết duy nhất tách cô khỏi căn phòng tối mờ. Trông cô như bị giam trong một nhà tù ánh sáng, hoặc như một thiên thần đang chuẩn bị bay về trời.
Tôi bước đến gần cô trong im lặng, cảm thấy sức lực thường ngày dồn về cánh tay khi tôi lấy chiếc tô khỏi tay April. Khi cô bé phát ra một tiếng kêu khe khẽ, tôi thấy quyết tâm mình lung lay. Nhưng đây là việc cần phải làm, sớm hay muộn. Tôi dồn sức mạnh vào bụng mình.
Với April ngồi trong bóng tôi, tôi lạnh lùng nói: “Anh đã cảnh báo rồi mà. Bột bánh pound cake phải để nghỉ qua đêm thì mới ngon. Mở ra kiểm tra chỉ làm hỏng hương vị thôi.”
“Em xin lỗi”, cô bé lí nhí, trông thật đáng thương. Tôi thở dài.
“Em xứng đáng bị phạt. Giờ anh sẽ nướng cái bánh này, và hình phạt của em là phải ăn nó. Anh không đảm bảo hương vị đâu. Rõ chưa?”
“Dạ rõ.”
Tôi đặt tô bột vào chiếc lò nướng mới tinh. April gần như nhảy nhót trên đầu ngón chân, háo hức chờ món ngọt. Trong lúc cô bé mải mê, tôi cho phép mình một khoảnh khắc thở phào nhẹ nhõm.
Tôi thật sự mừng vì đã chuyển kẹo và nguyên liệu làm kẹo lên chỗ giấu sau tấm trần. Thói quen cẩn trọng quá mức của tôi đã bất ngờ phát huy tác dụng. Tôi không muốn phải giết thêm ai nữa — nhất là những người tôi không muốn giết.
“Anh sao thế, Matthew?”
April hỏi, nhận ra ánh mắt tôi. Đôi mắt trong veo, thẳng thắn, ngây thơ của cô bé nhìn sâu vào tôi. Cô không hề hay biết những tội lỗi tôi đang mang.
“Không có gì”, tôi quay đi. “Chỉ đang nghĩ cách vỗ béo một cô bé tham ăn nào đó.”
“Em xin lỗi rồi mà!”
“Anh sẽ dùng thật nhiều đường và bơ. Em sẽ no đến mức khỏi ăn tối. Rồi ông già sẽ mắng em.”
“Đồ đáng ghét!”
April đá vào ống chân tôi. Cô bé sẽ ổn thôi.
“À này”, tôi nói, cố tìm chủ đề khác để nói, “hồi nãy, ở căn nhà trống đó, em định nói gì vậy?”
“Em có nói gì à?” cô hỏi lại. “Em xin lỗi, em không nhớ nữa. Giờ thì ổn rồi.”
“Ừ.”
Vậy là cô không nhớ mình định nói gì, nhưng cũng cho rằng mọi chuyện đã ổn? Nếu cô không muốn nói, thì cũng không sao. Tôi sẽ không ép cô phải trả lời.
“Ừ, giờ thì ổn rồi. Em nghĩ… em không thể thắng”, cô nói, giọng buồn bã. Tôi không hiểu cô bé muốn nói gì, nhưng tôi cũng không định hỏi thêm. Tôi không có thói quen moi móc bí mật của một thiếu nữ đoan trang.
Sau đó, tôi nhét cho cô bé một bụng đầy bánh pound cake, nhưng mặt trời vẫn còn cao trên đỉnh đầu.
“Giờ thì sao? Em định về nhà à?”
“Em đang tính ghé qua trại trẻ mồ côi.”
“Để bắt bọn họ quỳ rạp xin lỗi em à?”
Bọn họ từng giở trò khốn nạn với cô bé. Cứ để chúng quỳ lạy đến khi mặt mũi lấm lem bùn đất. Chúng nợ April điều đó. Eddie từng đến cứu cô bé, liều cả mạng như một công chúa hiệp sĩ khoác giáp bạc, nhưng hắn cũng là kẻ đầu tiên định bán đứng cô.
“Khônggg, không phải vậy đâu”, cô bé phản đối, giọng đầy bực bội. “Em chỉ muốn nói chuyện lại với mọi người thôi.”
Cô bé thật ngọt ngào và chân thành, sau tất cả những gì đã trải qua. Phần lớn người ta sẽ mất hết niềm tin vào loài người. Tôi thì chắc chắn đã mất rồi.
“Đi thôi, anh sẽ đưa em đến đó.”
Ai biết lũ nhóc đó sẽ làm gì. Tiền thưởng đã bị gỡ xuống, nhưng luôn có những kẻ không màng luật lệ. Và April đã mười bốn tuổi. Những năm tới sẽ có ngày càng nhiều kẻ nhìn cô bé bằng ánh mắt không đứng đắn.
Chúng tôi bước ra ngoài và đi cạnh nhau, thu hút không ít ánh nhìn. Một người bán hàng lúng túng quay mặt đi. Tôi nhận ra hắn: một trong những kẻ từng đuổi theo April khi Harrison treo tiền thưởng. Lần sau gặp hắn trên phố, tôi sẽ để lại cho hắn một đám mây xì hơi thật to.
“À mà, Oliver dạo này sao rồi?”
“Ôi, nó hạnh phúc lắm.”
Con mèo béo giờ chính thức là thú cưng của April. Sau tất cả những gì nó gây ra cho cô bé, ông già không thể từ chối khi April ngỏ lời. Con mèo chủ yếu ngủ cả ngày, nhưng thỉnh thoảng lại bắt được một con chuột, rồi mang đến tặng April. Người ta kể rằng họ nghe thấy tiếng hét của cô bé giữa đêm khi thấy những món quà đó.
“Thế còn chuyện tìm người thay Nora thì sao?”
Người hầu gái của April đã vô cùng suy sụp sau vụ việc, khiến chứng đau lưng của bà trở nặng. Bà đã nghỉ việc và được gia đình chăm sóc.
“Sắp có người mới rồi. Cô ấy rất mạnh, nên cũng sẽ kiêm luôn vệ sĩ”, April tiết lộ. Biết tính ông già, tôi cứ tưởng ông sẽ thuê hẳn một đội Thánh Kỵ Sĩ cho cô bé.
“Cô ấy xinh không?”
“Bí mật”, April nói, mắt lấp lánh tinh nghịch. “Em sẽ giới thiệu cho anh sau, Matthew.”
“Anh mong chờ đấy.”
Cô gật đầu, rồi nét mặt hơi trầm xuống.
“Vậy… em sẽ đến hội và trại trẻ như thường lệ.”
“…Em không rời khỏi thị trấn sao?”
Sau vụ việc, chắc hẳn April đã nhận ra cái ác ẩn sâu trong lòng thị trấn này thật ghê tởm và tàn nhẫn. Sẽ đến một ngày ông già không còn nữa. Và một tiểu thư giàu có, được nuông chiều mà không có người bảo vệ sẽ là miếng mồi hoàn hảo cho lũ ác nhân.
Harrison thì đang ngồi tù, nhưng bộ xương của Liên Minh Ác quỷ vẫn còn vững chắc.
“…Ông bảo em nên rời khỏi thành phố này và đến học ở vương đô.”
“Anh nghĩ điều đó sẽ tốt cho em.”
Cô bé có thể học hành, trau dồi kiến thức, kết bạn với những người bình thường. Một cuộc sống như thế sẽ tốt hơn nhiều so với việc quanh quẩn bên đám mạo hiểm giả — những kẻ bị xã hội ruồng bỏ.
“Nhưng đây là nơi em đã sinh ra”, cô nói.
Quê hương. Một cảm xúc mà tôi không thể thấu hiểu. Tôi chưa từng có ý định quay về nơi mình gọi là nhà.
Rồi April khẽ mỉm cười với chính mình.
“Và đây cũng là nơi mọi người đang ở.”